CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỒI LẮNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU BỒI LẮNG HỒ CHỨA HÒA BÌNH 1. Giới thiệu về hồ chứa Hòa Bình 1. Hồ Hòa Bình và một số thông số cơ bản của công trình thủy điện Hòa Bình Hồ chứa Hòa Bình được khởi công xây dựng ngày 6 tháng 11 năm 1979 và khánh thành nhà máy vào ngày ngày 20 tháng 12 năm 1994. Công suất thiết kế là 1.920 MW, gồm 8 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất 240.
Sản lượng điện hàng năm là 8,16 tỷ KWh. Hồ chứa Hòa Bình được xây dựng phục vụ cho các mục đích chính là: Chống lũ cho vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong đó có thủ đô Hà Nội; phát điện; tưới tiêu, chống hạn cho nông nghiệp và giao thông thủy. Một số thông số cơ bản của công trình thủy điện Hòa Bình được trình bày trong bảng 1. Một số thông số của hồ chứa Hòa Bình Thông số Đơn vị Giá trị 1.
Nhà máy: - Công xuất lắp máy MW 1920 - Điện lượng trung bình năm 9 10 KWh 8,16 2. Đập dâng: - Cao trình đỉnh đập m 123 - Chiều dài đỉnh đập m 734 - Lưu lượng xả tối đa qua cửa xả đáy 3 m /s 21.900 - Lưu lượng xả tối đa qua cửa xả mặt 3 m /s 13. Hồ chứa: - Mực nước dâng bình thường m 115 - 117 - Mực nước chết m 80 - Mực nước gia cường m 120 3 - Dung tích toàn bộ km 9,45 3 - Dung tích hữu ích km 5,65 3 Dung tích chết km 3,85 - Dung tích chống lũ km 3 5,87 - Diện tích mặt hồ ứng với MNDBT km 2 208 ( Nguồn: Luận chứng kinh tế kỹ thuật công trình thủy điện Hòa Bình) [1] 4 Hình 1. Vị trí hồ Hòa Bình và các hồ chứa thủy điện trên sông Đà 1.Quy trình vận hành hồ chứa Hòa Bình 1.
Quy trình vận hành hồ khi chưa có hồ thủy điện Sơn La Hồ chứa Hòa Bình được thiết kế để có thể cắt được những trận lũ lớn như lũ lịch sử tháng VIII/1971, đảm bảo cho mực nước Hà Nội không vượt quá 13,3 m. Để nâng cao hiệu quả chống lũ cho hạ du và phát điện, giảm thiểu mâu thuẫn giữa các ngành dùng nước, cần phải có quy trình vận hành hợp lý. Ngày 12/VI/1997 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trưởng ban phòng chống lụt bão Trung ương Nguyễn Công Tạn đã ký quyết định số 57 PCLBTƯ/QĐ về quy trình vận hành hồ Hòa Bình [2]. Có thể tóm tắt một số nội dung của quy trình như sau: Điều 6 quy định 3 thời kỳ vận hành: (1) Thời kỳ lũ sớm từ 15/VI - 15/VII, (2) Thời kỳ lũ chính vụ từ 16/VII - 25/VIII, (3) Thời kỳ lũ muộn từ 26/VIII - 15/IX.
Điều 7 quy định khi hồ chứa làm nhiệm vụ cắt lũ cho hạ du, mực nước trong từng giai đoạn cho phép duy trì ở mức tối đa như sau: 5 1) Thời kỳ lũ sớm từ 15/VI - 15/VII: + Từ 15/VI - 15/VII: mực nước hồ được điều tiết ở cao trình +91± 2 m. + Trước ngày 25/VI do yêu cầu cắt lũ tiểu mãn, đảm bảo không xả xuống hạ lưu lưu lượng lớn hơn 4000 m3/s thì có thể nâng mức nước hồ cao hơn, nhưng không quá cao trình +100 m và phải đưa về mức +91± 2 m trước ngày 1/VII. 2) Thời kỳ lũ chính vụ từ 16/VII - 25/VIII: Mực nước hồ được điều tiết ở cao trình +90± 2 m. 3) Thời kỳ lũ muộn từ 26/VIII - 15/IX: Tùy theo tình hình thời tiết cuối tháng VIII, dự báo đầu tháng IX và kết quả tích nước làm nhiệm vụ cắt lũ của hồ trong thời kỳ lũ chính vụ, Ban chỉ đạo PCLBTƯ sẽ trao đổi với Tổng công ty điện lực Việt Nam (nay là Tập đoàn điện lực Việt Nam) và Tổng cục Khí tượng Thủy văn (nay là Trung tâm Khí tưởng Thủy văn Quốc gia) để quyết định.
Quy trình vận hành hồ khi có hồ thủy điện Sơn La Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1622/QĐ-TTg ngày 17 tháng 09 năm 2015 Về việc ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng [3], bao gồm các hồ: Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng. Có thể tóm tắt một số nội dung sau: Hồ Hòa Bình: - Mực nước dâng bình thường: 117,00 m; - Mực nước chết: 80,00 m; - Mực nước lớn nhất kiểm tra: 122,00 m; - Dung tích toàn bộ: 9.862,00 triệu m3; - Dung tích hữu ích: 6. Điều 7 quy định 3 thời kỳ vận hành: (1) Thời kỳ lũ sớm từ 15/VI - 19/VII, (2) Thời kỳ lũ chính vụ từ 20/VII - 21/VIII, (3) Thời kỳ lũ muộn từ 22/VIII - 15/IX. Các điều 8,9,10 quy định vận hành các công trình trong từng thời kỳ lũ sớm, lũ chính vụ và lũ muộn.
6 Với địa hình lưu vực dốc và bị chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối dày, lượng mưa và dòng chảy phong phú kết hợp với các điều kiện địa chất, thổ nhưỡng, thảm phủ thuận lợi khác, sông Đà là con sông có nồng độ bùn cát cao nhất cả nước. Theo Quy trình vận hành liên hồ, mực nước hồ Hòa Bình trong mùa lũ thường được duy trì ở cao trình trên 101 m. Dòng chảy nước và cát bùn đến, đặc điểm địa mạo và quy trình vận hành là ba nhân tố chính quy định lượng và phân bố bùn cát bồi lắng hồ Hòa Bình. Tổng quan về bồi lắng hồ chứa và các nghiên cứu bồi lắng hồ chứa trên sông Đà và hồ Hòa Bình 1.
Bồi lắng hồ chứa ở Việt Nam Theo thống kê năm 2012 của Tổng Cục Thủy lợi, cả nước có 6.648 hồ chứa thủy lợi các loại, trong đó chủ yếu là hồ nhỏ dưới 1,0 triệu m3 chiếm gần 90%, cụ thể: - Hồ có dung tích trên 100 triệu m3: 16 hồ - Hồ có dung tích từ (10 ÷ 100) triệu m3: 87 hồ - Hồ có dung tích từ (5 ÷ 10) triệu m3: 68 hồ - Hồ có dung tích từ (3 ÷ 5) triệu m3: 84 hồ - Hồ có dung tích từ (1 ÷ 3) triệu m3: 459 hồ - Hồ có dung tích từ (0,2 ÷ 1) triệu m3: 1.752 hồ - Hồ có dung tích dưới 0,2 triệu m3: 4.182 hồ Các nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học (Ngô Trọng Thuận, Cao Đăng Dư, 2002 hay Nguyễn Kiên Dũng, 2012) cho thấy có tới gần 40% số hồ chứa bị bồi lấp với mức độ vừa đến nghiêm trọng, nhìn chung bồi lấp đối với hầu hết các hồ là nhanh hơn thiết kế. Sự bồi lắng lòng hồ vượt quá mức cho phép, làm giảm dung tích hữu ích là một trong các nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng không đủ nước tưới của các hồ chứa. Ngoài ra bồi lắng trong hồ còn gây bất lợi cho việc vận hành và an toàn công trình và kéo theo nhiều ảnh hưởng khác đến môi trường cả ở thượng và hạ lưu hồ. Tình trạng các hồ chứa bị bồi lấp xảy ra trên phạm vi cả nước nhưng mức độ nặng nề hơn cả là ở Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên – những vùng có diện tích rừng bị tàn phá ác liệt, sườn đất dốc và việc khai thác tài nguyên mạnh mẽ diễn ra hàng ngày và thiếu sự kiểm soát [4] (xem bảng 1.
2 Tình hình bồi lắng hồ chứa ở một số địa phương TT Tỉnh Số lượng hồ Tổng dung tích Số hồ bị bồi lấp chứa (cái) hữu ích Vừa Nghiêm trọng 6 3 (10 m ) 1 Lai Châu 35 78.1 (Nguồn: Lưu Văn Lâm, 2004)[4] Như vậy, mới chỉ với số liệu của 6 tỉnh điển hình như trên thì đã mất tới 180 triệu m3 dung tích hồ chứa. Đây không phải là vấn đề nhỏ, nó cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc hạn chế bồi lắng hồ chứa. Một số hồ chứa điển hình đã được nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy hiện tượng bồi lắng như sau: (1). Hồ chứa Thác Bà là hồ thủy điện lớn đầu tiên của Việt Nam được xây dựng từ những năm 1960.
Trong nghiên cứu của Nguyễn Kiên Dũng và Cao Phong Nhã, 2005 [5], với hồ chứa Thác Bà, tổng lượng bùn cát lơ lửng vận chuyển qua mặt cắt trạm Bảo Yên trung bình nhiều năm là 4,56 x 106 tấn/năm. Trong đó, lượng bùn cát vào những tháng mùa lũ chiếm phần lớn và bằng 80,04%. Tuy nhiên, theo thời gian hàm lượng bùn cát tăng lên rõ rệt do các hoạt động dân sinh kinh tế trên lưu vực. Lưu lượng bùn cát bình quân ngày trung bình thời kỳ 1998-2004 gấp 1,5 lần so với thời kỳ 1983- 1987.
3 Xu thế diễn biến bùn cát theo thời gian hồ Thác Bà TT Giai đoạn Q (m3/s) Qs (tấn/ngày) 1 1983-2004 140 4872 2 1983-1987 140 3763 3 1988-1992 140 5608 4 1993-1997 140 4594 5 1998-2004 140 5574 (Nguồn: Nguyễn Kiên Dũng và Cao Phong Nhã, 2005)[5] 8 Lượng bùn cát lắng đọng trong hồ Thác Bà chủ yếu do sông Chảy vận chuyển vào qua mặt cắt trạm thuỷ văn Bảo Yên cộng với lượng bùn cát do Ngòi Biết và lượng bùn cát gia nhập khu giữa. Lưu lượng bùn cát trung bình các giai đoạn tới hồ Thác Bà như bảng 1. Tổng lượng bùn cát lắng đọng sau 30 năm vận hành (1972-2001) trong khoảng 163-175 x 106 m3. Nghiên cứu trên đã bước đầu đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến bùn cát hồ chứa Thác Bà, hồ chứa thủy điện lớn đầu tiên của Việt Nam.
Nghiên cứu cho thấy lượng bùn cát chủ yếu tập trung vào mùa lũ và nhìn chung lượng bùn cát bồi lắng gia tăng theo thời gian. Hồ chứa Trị An: Nghiên cứu bồi lắng lòng hồ Trị An do nhóm tác giả Mai Thành Tân, 2014 [6] nghiên cứu cho thấy hoạt động bồi lắng kể từ khi có đập thủy điện Trị An xảy ra mạnh ở nửa phía thượng lưu đặc biệt là ở khu vực gần nơi các sông Đồng Nai và La Ngà đổ vào hồ trong khi ở phần phía hạ nguồn, nơi gần các đập ngăn hoạt động này là không đáng kể. Như vậy có thể thấy các sông Đồng Nai và La Ngà là hai sông chính cung cấp vật liệu gây bồi lắng cho hồ. Các mẫu phân tích có chiều dày trên 100 cm phần lớn tập trung ở phía đông hồ, gần nơi sông Đồng Nai và La Ngà đổ vào.
So sánh các thông số dung tích hồ Trị An các năm 1987 - thời điểm vận hành hồ, đến năm 2010 - thời điểm hiện tại khảo sát, 2020 - thời điểm sau 10 năm so với hiện tại và 2060 - thời điểm sau 50 năm so với hiện tại, cho thấy có xu thế giảm rõ ràng về cả dung tích toàn bộ, dung tích chết và dung tích hữu ích (bảng 1.