CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hóa 1. Một số khái niệm a.
Khái niệm đàm phán Trong thực tế, đàm phán là một hoạt động cơ bản của con người, không thể thiếu và có vị trí đặc biệt quan trọng. Cho đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về đàm phán được các chuyên gia nổi tiếng đưa ra. Trên phạm vi thế giới, có thể kể một số tác giả sau: Theo Gerard I.Nierenberg, trong cuốn sách "Nghệ thuật đàm phán" đã viết: "Bất cứ khi nào người ta trao đối ý kiến nhằm thay đổi mối quan hệ, khi con người bàn bạc để đi đến thống nhất, họ đều phải đàm phán với nhau"3. Theo Joseph Burnes (1993) thì "Đàm phán là một cuộc thảo luận giữa hai hay nhiều người để đi đến một mục đích chung là đạt được thỏa thuận về những vấn đề ngăn cách các bên mà không bên nào có đủ sức mạnh, hoặc có sức mạnh nhưng không muốn sử dụng để giải quyết những vấn đề ngăn cách đó"4.
Như vậy, định nghĩa của J.Burnes coi nguyên nhân của đàm phán là xung đột và mục đích của đàm phán là giải quyết các xung đột bằng phương pháp tránh sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, định nghĩa này lại chưa chỉ ra bản chất của xung đột là sự bất đồng về lợi ích giữa các bên. Roger Fisher & William Ury (1991) lại nhìn đàm phán ờ góc độ khác, coi "đàm phán là phương tiện cơ bản để đạt được cái ta mong muốn từ người khác. Đó là quá trình giao tiếp có đi có lại được thiết kế nhằm đạt được thỏa thuận trong khi giữa ta và phía bên kia có những quyền lợi có thế chia sẻ và những quyền lợi đối kháng"5.
Như vậy, theo Roger Fisher & William Ury, nguyên nhân của đàm phán là 3 Peter B. Stark, Jane Flaherty (2005), Bí quyết đàm phán, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, trang 13 4 Nguyễn Xuân Thơm, Nguyễn Văn Hồng (1997), Kỹ thuật đàm phán thương mại quốc tế, N XB Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội, trang 18 5 GS.Đoàn Thị Hồng Vân (2004), Đàm phán trong kinh doanh quốc tế, NXB Thống Kê, Hà Nội, trang 5 Luan van 6 động cơ quyền lợi hối thúc và mục đích của đàm phán là chia sẻ quyền lợi trong khi có những bất đồng. Ở Việt Nam, dưới nhiều góc độ khác nhau, có một số tác giả đã đưa ra khái niệm này.
Chẳng hạn, dưới góc độ học thuật, theo GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân và Th.S Kim Ngọc Đạt: “Đàm phán là hành vi và quá trình, mà trong đó hai hay nhiều bên tiến hành thương lượng, thảo luận về các mối quan tâm chung và những quan điểm còn bất đồng, để đi đến một thỏa thuận thống nhất”. Theo định nghĩa này đàm phán là cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều bên về những yêu cầu và nguyện vọng của mỗi bên đối với bên kia xoay quanh các vấn đề có liên quan đến các quyền lợi của tất cả các bên, nhằm tìm ra các giải pháp thống nhất giữa các bên để giải quyết mối quan tâm chung và những quan điểm còn bất đồng. Dưới góc độ kinh tế, theo tác giả Nguyễn Xuân Thơm và Nguyễn Văn Hồng: "Đàm phán được hiểu là quá trình mặc cả và thuyết phục thông qua giao tiếp, trao đổi thông tin trực diện hoặc văn bản vì mục tiêu lợi nhuận kinh tế giữa các bên có quan hệ mua bán với nhau nhằm đạt được những cam kết bằng văn bản dưới hình thức hợp đồng dựa trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện giữa các bên"6. Định nghĩa này cho thấy bản chất của đàm phán là sự mặc cả, thuyết phục giữa các bên, thông qua hình thức đàm phán khác nhau để đạt được mục đích là ký hợp đồng mua bán hàng hóa mang lại lợi nhuận kinh tế cho các bên.
Các định nghĩa trên phần nào làm rõ được các sắc thái riêng ở mỗi góc độ đàm phán. Nhưng tựu chung lại có thể hiểu rằng: Đàm phán là quá trình bàn bạc, thỏa thuận giữa các bên liên quan, nhằm đi đến ý kiến thống nhất về vấn đề mà các bên quan tâm hướng tới. Đàm phán hợp đồng xuất khẩu hàng hóa Đàm phán hợp đồng xuất khẩu hàng hóa là một loại của đàm phán thương mại quốc tế. Khi hoạt động đàm phán vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì được gọi là đàm phán thương mại quốc tế.
Đàm phán hợp đồng xuất khẩu là cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều nhà kinh doanh đại diện cho các DN khác nhau nhằm thoả thuận với nhau về những điều kiện giao dịch mà mỗi bên có thể chấp nhận được. Trong lĩnh 6 Nguyễn Xuân Thơm, Nguyễn Văn Hồng (1997), Kỹ thuật đàm phán thương mại quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Luan van 7 vực hợp đồng, đàm phán là phương pháp được dùng để đạt được sự nhất trí về các điều kiện giữa các bên mua và bán. Đàm phán là quá trình mặc cả, tranh luận hợp lý và bình đẳng giữa các bên trong hợp đồng để dẫn tới một cách giải quyết chung.
Từ đó, có thể hiểu: Đàm phán hợp đồng xuất khẩu hàng hóa là quá trình giao tiếp giữa bên mua và bên bán có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau về các vấn đề liên quan đến hàng hóa nhằm đạt được sự nhất trí để ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hóa. Theo khái niệm trên, đối tượng của đàm phán là hoạt động xuất khẩu hàng hóa trên phạm vi quốc tế. Nội dung của đàm phán là các điều khoản mua bán quốc tế như: giá cá, chất lượng, điều khoản giao hàng, thanh toán, bảo hành. Chủ thể của hoạt động đàm phán là các DN thuộc các quốc gia khác nhau, mà trực tiếp là đại diện của các DN này.
Khái niệm đàm phán BATNA, ZOPA BATNA7 (Best alternative to a negotiated agreement) là một khái niệm do Roger Fisher và William Ury phát triển. Theo tiếng Việt, cụm từ này được dịch là "giải pháp thay thế tốt nhất cho một thỏa thuận được thương lượng”. Về bản chất của BATNA là nhà đàm phán xác định được điều gì sẽ xảy ra khi không thể đạt được thỏa thuận.8 Việc xác định BATNA sẽ giúp biết chính xác mục tiêu cũng như giới hạn của thương lượng, khi nào nên chấm dứt thương lượng. Đây là hành động ưu tiên nhất khi không đạt được thoả thuận.
Biết được BATNA nghĩa là biết được những gì nhà đàm phán sẽ làm hay điều gì sẽ xảy ra nếu như không đạt được sự nhất trí trong cuộc thương lượng sắp tới. Xác định BATNA của mình chỉ là 1 phần của thương lượng, những nhà đàm phán chuyên nghiệp còn xác định những BATNA của đối phương hay đối tác. Hiểu biết về BATNA của đối phương rất hữu ích, sẽ giúp nhà đàm phán biết được mình có thể đi xa tới đâu. Trong trường hợp nhà thương lượng có BATNA mạnh (có lợi cho mình) nhưng vẫn buộc đối phương phải đồng ý thì không có gì để bàn, 7 Harvard Business Essentials, Kỹ năng thương lượng, NXB Tổng hợp TP.
Hồ Chí Minh, 2003 8 http://quantri.vn/ask/details/383-ky-thuat-thuong-luong, truy cập 12/4/2019. Luan van 8 nhưng trong trường hợp BATNA yếu, có thể cải thiện BATNA của mình bằng cách: Cải thiện BATNA của mình bằng các luận cứ và/hoặc làm suy yếu BATNA của đối phương. ZOPA (Zone of possible agreement) hay phạm vi có thể nhất trí là khu vực mà tại đó có thể phát sinh thỏa thuận mà được làm vừa lòng cả hai bên. Có nghĩa là tại "vùng" mà tại đây tập hợp những thỏa thuận phù hợp với cả hai bên.
Mức giá chấp nhận của mỗi bên xác định giới hạn của ZOPA. ZOPA tự nó tồn tại ở phần giao thoa giữa các giới hạn cao và thấp, tức là giữa các mức giá chấp nhận của hai bên. Việc xác định chính xác ZOPA có thể sẽ đem lại lợi ích cho cả hai bên nhiều hơn các lựa chọn thay thế. Từ đó giúp cho nhà quản lý biết được mức giá, khoảng chấp nhận để đàm phán.
Các nguyên tắc đàm phán, ký kết hợp đồng trong thương mại quốc tế a. Phải biết kết hợp hài hoà giữa bảo vệ lợi ích của DN mình với việc duy trì và phát triển mối quan hệ với các đối tác Nội dung của nguyên tắc này là khi đàm phán ký kết hợp đồng, các chủ thể phải đảm bảo trong nội dung của hợp đồng có sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng lợi ích kinh tế của mỗi bên. Nếu như không bên nào chịu nhượng bộ bên nào mà chỉ quan tâm đến lợi ích của mỗi bên thì sẽ không ký được hợp đồng. Đàm phán thành công, ký được hợp đồng tức là vừa giữ được mối quan hệ vừa phải giữ được lợi ích của các bên nên đàm phán ký kết hợp đồng là quá trình thống nhất giữa các mặt “hợp tác” và “xung đột”.
Trong đàm phán, phải tránh khuynh hướng: đàm phán theo kiểu quá “mềm”, chỉ chú trọng giữ mối quan hệ của hai bên mà không quan tâm đến lập trường của mình, dẫn đến việc bị đối phương chèn ép, đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, cuối cũng phải chịu thiệt thòi mặc dù đã kí được hợp đồng. Ngược lại, cũng không nên quá “cứng”, khăng khăng bảo vệ lập trường của mình làm cho đàm phán tan vỡ, không ký được hợp đồng; hoặc ký được hợp đồng nhưng đối phương bị quá dồn ép đến nổi không thực hiện được hợp đồng. Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều thành phần, cơ cấu chủ thể của hợp đồng rất đa dạng, nguyên tắc này còn có ý nghĩa rất quan Luan van 9 trọng. Nó góp phần tạo nên sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích sự phát triển và đa dạng hoá các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
Nguyên tắc tự do ý chí của các bên trong đàm phán, ký kết hợp đồng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Theo nguyên tắc này, một hợp đồng được hình thành phải hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các chủ thể (tự do ý chí), không thể áp đặt ý chí của bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào. Các bên có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, địa điểm đàm phán, ngôn ngữ đàm phán, ngôn ngữ hợp đồng, thời điểm ký kết, nội dung ký kết. Nguyên tắc này thể hiện quyền tự chủ trong trong đàm phán ký kết hợp đồng của các chủ thể kinh doanh được Nhà nước, pháp luật bảo đảm. Điều 11 Luật Thương mại 2005 quy định: “1.