Chương 1: Những vấn đề chung về Đại đoàn kết dân tộc Chương 2: Tuyên truyền về vấn đề Đại đoàn kết dân tộc Chương 3: Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền về Đại đoàn kết dân tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số 11 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 1. Khái niệm về Dân tộc và Đại đoàn kết dân tộc 1. Dân tộc thiểu số Dân tộc và dân tộc thiểu số là những khái niệm có mối liên kết mật thiết với nhau, tuy thống nhất mà không đồng nhất. Ở chúng vẫn có những điểm khác cần nhận rõ.
Từ điển Bách khoa Việt Nam đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị- xã hội đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu đƣợc hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính ngƣời (ethnie) của bộ phận tộc ngƣời. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phƣơng thức sản xuất khác nhau… ( Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam) Từ điển Tiếng Việt nêu định nghĩa dân tộc nhƣ sau: 1. Cộng đồng ngƣời hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trƣng văn hóa và tính cách… 2. Tên gọi chung những cộng đồng ngƣời cùng chung một ngôn ngữ,lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc… 3.
Cộng đồng ngƣời ổn định làm thành nhân dân một nƣớc, có ý thức vềsự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung.Và định nghĩa dân tộc thiểu số nhƣ sau: “Dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số đông nhất trong một nƣớc có nhiều dân tộc”. 12 z Giáo trình triết học Mác - Lênin, do Hội đồng Trung ƣơng chỉ đạo biên soạn cho rằng: Khái niệm dân tộc thông thƣờng đƣợc dùng để chỉ hầu nhƣ tất cả các hình thức cộng đồng ngƣời (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc). Cần phân biệt “dân tộc” theo nghĩa rộng trên đây với “dân tộc” theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng đồng ngƣời cao hơn các hình thức cộng đồng trƣớc đó, kể cả bộ tộc. “Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay.
Các học giả phƣơng Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít. Trong một số trƣờng hợp, ngƣời ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia. Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tƣơng quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc.
Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó đƣợc chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc. Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nƣớc ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80 triệu ngƣời. Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, đƣợc quan niệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số đƣợc quan niệm là “dân tộc thiểu số” trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khái niệm “dân tộc thiểu số”, có lúc, có nơi, nhất là 13 z trong những năm trƣớc đây còn đƣợc gọi là “dân tộc ít người”.
Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số”, nhƣng cách gọi “dân tộc ít người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung. Rút ra định nghĩa về dân tộc và dân tộc thiểu số nhƣ sau: Dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người. Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo nên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người. Xét cho cùng, nền tảng của sự liên kết mà các yếu tố trên tạo nên là trình độ phát triển kinh tế.
Bởi vì, tính chất của dân tộc bao giờ cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất. Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới. Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác.
Khái niệm về Đại đoàn kết dân tộc Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học và Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 1994 và sau đó là các Từ điển khác đều đƣa ra khái niệm đoàn kết nhƣ sau: “đoàn kết là kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung” và Đại đoàn kết là “đoàn kết rộng rãi”. Rõ ràng, đây là một cắt nghĩa phổ thông về Hán Việt và mới chỉ đƣa ra cái vỏ thông tin của khái niệm chứ chƣa có nội dung đầy đủ. Đó là trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ. Khái niệm đại đoàn kết theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh: 14 z Trong bài nói chuyện tại Hội nghị Đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc 10.
1955, Hồ Chí Minh đã nêu ra khái niệm đại đoàn kết. “Đại đoàn kết là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền cuả nhà, cái gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác.
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dƣới ánh sáng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi Đảng, Nhà nƣớc phải xây dựng và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong thời gian qua, nhìn chung, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đƣợc mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững ổn định chính trị- xã hội của đất nƣớc. Tuy nhiên, trong khi sự nghiệp đổi mới đang có yêu cầu cao về tập hợp sức mạnh của nhân dân thì việc tập hợp nhân dân vào Mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội còn nhiều hạn chế, nhất là ở khu vực kinh tế tƣ nhân, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào dân tộc thiểu số. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn cách mạng hiện nay là: phải củng cố và tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Trong tình hình hiện nay, để vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần chú ý những vấn đề sau đây: 15 z Một là, phải thấu suốt quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hai là, lấy mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng làm điểm tƣơng đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hƣớng tới tƣơng lai. Ba là, bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân - tập thể - toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn với giữ gìn kỷ cƣơng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không ngừng bồi dƣỡng, nâng cao tinh thần yêu nƣớc, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần tự lực tự cƣờng xây dựng đất nƣớc; xem đó là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bốn là, đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng đƣợc thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, nâng cao ý chí tự lực tự cƣờng, giữ vững bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế Từ khi đất nƣớc thống nhất, bƣớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới, toàn diện đất nƣớc, Đảng ta đã vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc phù hợp với tình hình mới. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc chuyển sức mạnh đoàn kết dân tộc trong thời kỳ giữ nƣớc sang thời kỳ dựng nƣớc không phải là việc dễ dàng, lịch sử đang đòi hỏi những nỗ lực lớn của Đảng và Nhà nƣớc ta trong lĩnh vực này.