mở đầu cho việc truyền các hình ảnh đi xa. Nó được nghiên cứu và chế tạo vào những năm 60 của thế kỷ XX với những ống thu hình Vidicon. Truyền hình đen trắng đã từng được sử dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, cùng với sự phát triển nhanh chóng của đèn điện tử thì các thiết bị của truyền hình đen trắng có độ ổn định hơn, chất lượng tốt hơn. Tuy nhiên truyền hình đen trắng lại có nhược điểm rất lớn là không có khả năng truyền đi các hình ảnh có màu sắc như trong thực tế.
Do đó, năm 1957, hệ truyền hình màu đầu tiên đã ra đời tại Pháp, đã mở ra cuộc cách mạng đối với nền công nghiệp truyền hình. Hiện nay, có 3 loại công nghệ truyền hình tương tự chính được sử dụng trên toàn thế giới dựa trên tiêu chuẩn mã hóa hình ảnh NTSC, SECAM và PAL và sử dụng điều chế RF để điều chế tín hiệu sóng mang VHF hoặc UHF. Mỗi khung hình của một hình ảnh truyền hình bao gồm các dòng quét trên màn hình. Các dòng có độ sáng khác nhau, tập hợp toàn bộ dòng được vẽ một cách nhanh chóng để mắt người cảm nhận nó như là một hình ảnh.
Các khung hình tiếp theo tuần tự được hiển thị, cho phép mô tả chuyển động. Các tín hiệu truyền hình tương tự có thông tin về thời gian và đồng bộ để máy thu có thể tái tạo lại một hình ảnh hai chiều chuyển động từ một tín hiệu một chiều biến thiên chậm. 7 - Tiêu chuẩn NTSC được phát triển tại Mỹ và lần đầu tiên được sử dụng trong năm 1954, NTSC hiện là tiêu chuẩn truyền hình lâu đời nhất. Nó bao gồm quét dòng là 525 và tần số quét hình là 60Hz.
- Tiêu chuẩn SECAM được phát triển ở Pháp và lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1967. Nó sử dụng quét dòng 625 và tần số quét hình là 50Hz. Các loại tiêu chuẩn khác nhau sử dụng băng thông video và thông số kỹ thuật cung cấp dịch vụ âm thanh khác nhau. - Tiêu chuẩn PAL được phát triển ở Đức và lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1967.
Đây là một biến thể của NTSC, chuẩn PAL sử dụng quét dòng 625 và tần số quét hình là 50Hz. Các tiêu chuẩn khác nhau sử dụng băng thông video và thông số kỹ thuật cung cấp dịch vụ âm thanh khác nhau. Trong kỷ nguyên truyền hình tương tự, các tiêu chuẩn đều có những phương tiện truyền dẫn tín hiệu cho riêng mình. Các thiết bị mạng có giá thành cao nên các mạng truyền hình mặt đất đều trực thuộc nhà nước hoặc chính phủ.
Các chuẩn không có khả năng giao tiếp với nhau nên đòi hỏi các quốc gia phải có hệ thống truyền hình mặt đất riêng cho mình. Hệ thống truyền hình tương tự bao gồm hệ thống sản xuất chương trình truyền hình (quay hậu trường, chỉnh sửa, hoàn thiện và lưu trữ video), phát sóng (tạo ra composite video, điều chế, khuếch đại, phát sóng) và tiếp nhận (thu tín hiệu từ anten, giải điều chế của máy thu truyền hình và hiển thị hình ảnh và âm thanh đến người xem) với tất cả các tín hiệu là tương tự. Ngày nay, thông tin kỹ thuật số được tạo ra trong phòng thu. Với truyền hình kỹ thuật số, tất cả các quá trình là kỹ thuật số, các hình ảnh, âm thanh và tất cả các thông tin bổ sung được tạo ra, truyền đi và nhận được tín hiệu kỹ thuật số.
Điều này cho phép định dạng tốt nhất cho hình ảnh và âm thanh, hình ảnh rộng hơn so với bản gốc (màn hình toàn cảnh), với mức độ cao hơn về độ phân giải (độ phân giải cao) và âm thanh stereo. Các hệ thống truyền hình số với những ưu điểm vượt trội so với truyền hình tương tự ở khả năng chống nhiễu cũng như tăng hiệu quả băng thông đang ngày càng phát triển và được nghiên cứu ở nhiều quốc gia. Do đó, xu hướng hiện nay là chuyển đổi sang truyền hình số. Kỷ nguyên truyền hình số Nhu cầu của mọi người về chất lượng âm thanh và hình ảnh tốt hơn của tín hiệu TV luôn là động lực to lớn cho ngành phát thanh truyền hình và điều này dẫn đến việc phát minh ra truyền hình số (DTV).
Ngoài ra, do những đột phá kỹ thuật đáng kể trong lĩnh vực xử lý tín hiệu số (bao gồm thu nhận tín hiệu, ghi, nén, lưu trữ, phân phối, truyền và nhận), ngành bán dẫn và các ngành liên quan khác trong nửa thế kỷ qua, ngành phát thanh truyền hình hiện đang nắm lấy giai đoạn quan trọng thứ ba trong lịch sử của nó, tức là kỷ nguyên DTV. Những ưu điểm của DTV so với truyền hình tương tự truyền thống có thể được tóm tắt như sau: Khả năng chống nhiễu tốt hơn, không tích tụ tiếng ồn và tín hiệu chất lượng cao. Sau khi số hóa, tín hiệu tương tự được chuyển thành chuỗi nhị phân (hai mức). Hiệu suất truyền cao hơn và linh hoạt hơn trong ghép kênh Dễ dàng mã hóa và hỗ trợ các dịch vụ tương tác Dễ dàng lưu trữ, xử lý và phân phối trong môi trường mạng Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc tổng quát của hệ thống truyền hình số 1.
Thành phần của hệ thống DTV Hệ thống phát sóng DTV (Digital television) hoàn chỉnh bao gồm ba thành phần chính; hệ thống đầu cuối chuyển đổi, hệ thống truyền tải / mạng phân phối và hệ thống đầu cuối người dùng. Hệ thống đầu cuối phát sóng DTV Hệ thống đầu cuối truyền để phát sóng DTV là thiết bị chuyên nghiệp cho đài truyền hình và nó chủ yếu bao gồm máy quay video, máy ghi hình, thiết bị lưu trữ, máy tạo hiệu ứng đặc biệt, máy biên tập, máy phụ đề, bộ mã hóa âm thanh và video. Đơn vị xử lý thông tin thường bao gồm hệ thống lập lịch chương trình, hệ thống quản lý người dùng, bộ ghép kênh và hệ thống truy cập có điều kiện (CA). Hệ thống lập kế hoạch chương trình là một nền tảng cho các ứng dụng hệ thống và quản lý dịch vụ.
Hệ thống quản lý người dùng chịu trách nhiệm xử lý thông tin tài khoản của người dùng. Bộ ghép kênh là bộ phận cốt lõi của đơn vị và chịu trách nhiệm lập nội dung, bao gồm chọn lại, phân bổ, ghép kênh và phân phối nội dung được thu thập từ các nơi khác nhau đến các kênh khác nhau với sự kiểm soát của hệ thống lập chương trình. Hệ thống truyền dẫn / Mạng phân phối để phát sóng DTV Các mạng điển hình để truyền và phân phối tín hiệu DTV bao gồm phát sóng mặt đất, cáp và vệ tinh. Các số liệu thống kê cho thấy truyền hình mặt đất vẫn là hình thức phát sóng truyền hình quan trọng và phổ biến nhất.
Để thích ứng với môi trường truyền dẫn phức tạp nhất đối với phát sóng mặt đất, các công nghệ và khối chức năng trong hệ thống DTTB không chỉ khác với truyền hình tương tự mà còn có thể khác với truyền hình vệ tinh hoặc truyền hình cáp. Mạng truyền dẫn phát sóng mặt đất chủ yếu sử dụng mạng đơn tần SFN, bộ kích thích và bộ truyền. Truyền hình số mặt đất có diện phủ sóng hẹp hơn so với truyền qua vệ tinh, song dễ thực hiện hơn so với mạng cáp. Cũng bị hạn chế bởi băng thông nên sử dụng phương pháp điều chế OFDM nhằm tăng dung lượng dẫn qua một kênh sóng và khắc phục hiện tượng nhiễu ở truyền hình mặt đất tương tự.
Phương pháp này có những đặc điểm: - Trong phạm vi phủ sóng, chất lượng ổn định, khắc phục được các vấn đề phiền toái như hình ảnh có bóng, can nhiễu, tạp nhiễu, tạp âm… - Máy thu hình có thể được lắp đặt dễ dàng ở các vị trí trong nhà, có thể xách tay hoặc lưu động ngoài trời. 10 - Có dung lượng lớn, chứa âm thanh (như âm thanh nhiều đường, lập thể, bình luận…) và các dữ liệu. - Có thể linh hoạt chuyển đổi từ phát chương trình có hình ảnh và âm thanh chất lượng cao (HDTV) sang phát nhiều chương trình chất lượng thấp hơn và ngược lại. Tuy nhiên, phương thức truyền hình số mặt đất cũng có một số nhược điểm: - Kênh bị giảm chất lượng do hiện tượng phản xạ đa đường (multipath).
- Giá trị tạp do con người tạo ra là cao. - Do phân bố tần số khá dày trong phổ tần đối với truyền hình, giao thoa giữa truyền hình tương tự và số là vấn đề phải cần xem xét. Nhìn chung cả 3 phương pháp truyền dẫn truyền hình số ở trên đều có những ưu, nhược điểm riêng và chúng sẽ bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Nếu truyền hình qua vệ tinh có thể phủ sóng một khu vực rất lớn với số lượng chương trình lên đến hàng trăm thì tín hiệu số trên mặt đất dùng để chuyển các chương trình khu vực, nhằm vào một số lượng không lớn người thu.
Đồng thời, ngoài việc thu bằng anten cố định trên mái nhà, truyền hình số mặt đất còn cho phép thu được bằng anten nhỏ của máy tính xách tay, thu trên di động (trên ôtô, máy bay…). Truyền hình số truyền qua mạng cáp phục vụ thuận lợi cho đối tượng là cư dân ở các khu đông đúc, không có điều kiện lắp anten thu vệ tinh hay anten mặt đất. Mạng đơn tần SFN của mô hình kênh hệ thống truyền hình số mặt đất SFN (Single-Frequency Network) là một tính năng rất quan trọng của hệ thống DTV giúp phân biệt nó với hệ thống truyền hình tương tự. Nếu kênh được sử dụng trong một lĩnh vực kinh doanh, thì kênh đó sẽ không được phép sử dụng trong các lĩnh vực kinh doanh khác.
Đây là lý do chính mà kênh cấm (taboo channel) được sử dụng, và gọi là mạng đa tần MFN (MultiFrequency Network) sử dụng trong các hệ thống truyền hình tương tự. Tuy nhiên, SFN yêu cầu một số máy phát truyền cùng một tín hiệu chính xác tại cùng một thời điểm và cùng một tần số để đạt được vùng phủ sóng đáng tin cậy trong một vùng dịch vụ nhất định [11]. So với MFN, SFN có những ưu điểm sau: SFN rõ ràng có thể đạt được việc sử dụng 11 phổ tần tốt hơn và có thể cung cấp cường độ tín hiệu phân bố đồng đều hơn trong vùng phủ mong muốn. Độ lợi phân tập từ các máy phát khác nhau trong cùng một khu vực dịch vụ có thể nâng cao hiệu suất thu đáng kể và/hoặc giúp giảm công suất phát tổng thể.