CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRU ỀN H NH S Chương này sẽ trình bày tiến trình phát triển của truyền hình số bao gồm các nội dung về công nghệ truyền hình tương tự, lịch sử hình thành và phát triển công nghệ truyền hình số, các tiêu chuẩn của truyền hình số và so sánh ưu, nhược điểm giữa truyền hình tương tự và truyền hình số, giữa truyền hình độ phân giải tiêu chuẩn (SD) và truyền hình độ phân giải cao (HD).1 Giới thiệu: Truyền hình số là sự nối tiếp của truyền hình tương tự. Truyền hình số đã được sử dụng từ thập niên 70, ở nhiều chỗ mà truyền hình tương tự tỏ ra không thuận lợi. Truyền hình số đã mang lại lợi ích to lớn trong công tác truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng. Hệ thống truyền hình số được xây dựng từ sự chuyển tiếp các hệ thống truyền hình tương tự hệ 625/50 và 525/60.
Khi chuyển từ hệ thống truyền hình tương tự sang hệ thống truyền hình số thì tín hiệu truyền hình được số hoá, nén, điều chế và phát sóng vào không gian tự do, có thể chuyển từ các tiêu chuẩn PAL (Phase Alternative Line) tương tự sang PAL số, từ NTSC (National Television System Committee) tương tự sang NTSC số. Ở Việt Nam, hệ thống truyền hình số được triển khai bằng việc phát sóng số qua vệ tinh từ năm 1996 và ngày càng ứng dụng rộng rãi cho đến nay. Truyền hình số là một phương pháp hoàn toàn mới, cho phép người xem có thể tiếp nhận các chương trình truyền hình trên các thiết bị số khác nhau (tivi, điện thoại, máy tính. Truyền hình số cho thuê bao xem được nhiều chương trình truyền hình với chất lượng cao nhất nhờ các kỹ thuật nén số.
C n n ệ tru ền n t n t Khái niệm cơ bản về truyền hình vẫn còn lệ thuộc vào tư duy điện ảnh. Vì truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh. Thực chất, cội nguồn trực tiếp của truyền hình là điện ảnh. Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hình những ý tưởng, gợi ý đầu tiên về một phương thức truyền thông cũng như một kho tàng những phương tiện biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cơ sở cho truyền hình có thể thích ứng nhanh Trần Thanh Lam – Cao học KTĐT K20.1 Đại học Giao thông vận tải 2 chóng với những đặc trưng kỹ thuật riêng của mình.
Cho dù có những khác biệt về nhiều phương diện thì điện ảnh và truyền hình vẫn có chung một cơ sở ngôn ngữ, cũng như một phương pháp tiếp nhận thông tin. Về kỹ thuật, truyền hình hoạt động theo nguyên lý cơ bản sau: hình ảnh về sự vật được máy ghi hình biến đổi thành tín hiệu điện trong đó mang thông tin về độ sáng tối và màu sắc, đó là tín hiệu hình (tín hiệu video). Sau khi được xử lý, khuếch đại, tín hiệu hình được truyền đi trên sóng truyền hình nhờ máy phát sóng hoặc hệ thống dây dẫn. Tại nơi nhận, máy thu hình tiếp nhận tín hiệu rồi đưa đến đèn hình để biến đổi ngược từ tín hiệu hình thành hình ảnh trên màn hình.
Phần âm thanh cũng được thực hiện theo một nguyên lý tương tự như thế để rồi đưa ra loa. Sự phát triển của công nghệ truyền hình có thể được thực hiện trên 2 phạm vi: Các phát triển trên phương diện cơ học và điện tử học, và các phát triển hoàn toàn trên điện tử học. Sự phát triển thứ hai là nguồn gốc của các tivi hiện đại, nhưng những điều trên không thể thực hiện nếu không có sự phát hiện và sự thấu hiểu từ hệ thống cơ khí. Một sinh viên người Đức Paul Gottlieb Nipkow đưa ra phát kiến hệ thống tivi cơ điện tử đầu tiên năm 1885.
Thiết kế quay đĩa của Nipkow được xem là chuyển đổi hình ảnh thành các chấm điểm. Tuy nhiên, phải tới năm 1907, sự phát minh của công nghệ ống phóng đại mới giúp các thiết kế thành hiện thực. Trong thời điểm đó Constatin Perskyi đề xuất từ tivi trong một xuất bản tại Viện điện tử quốc tế ở Hội chợ Quốc tế ở Paris vào 25 tháng 8 năm 1900. Các xuất bản của Perskyi tóm tắt lại công nghệ cơ điện tử, đề cập đến thành quả của Nipkow và các đồng sự.
• Năm 1927, một người Mỹ trẻ tuổi là Philo Taylor Farnsworth đã phát triển thành công phiên bản thương mại ống tia cực âm nhằm phát tín hiệu truyền hình điện tử và đây là bước đột phá trong nghệ truyền hình của nhân loại. • Năm 1930, một vài tiêu chuẩn của công nghệ TV cùng xuất hiện và cạnh tranh để thống trị thị trường non trẻ này. Một trong những sản phẩm chiếm ưu thế là chiếc EMI-Marconi. Năm 1950 có thể chạy 25 khung hình trên một giây và khá phổ biến tại Anh.
Một tiêu chuẩn TV khác có thể chạy 30 khung hình trên giây và chủ yếu phát triển tại Mỹ. Trần Thanh Lam – Cao học KTĐT K20.1 Đại học Giao thông vận tải 3 • Trên thực tế ngày 2-11-1936 không phải là ngày đầu tiên sóng truyền hình được phát. Thực ra tại Châu Âu nó đã có từ trước đó trong sự kiện Olympic 1936 ở Berlin nhưng mãi đến ngày 2-11, khi đài truyền hình BBC phát đi những tín hiệu đầu tiên từ cung điện Alexandra ở Luân Đôn thì Lúc đó khán giả Châu Âu mới công nhận sự ra đời của truyền hình. Theo những thông tin được ghi lại thì chỉ có khoảng 500 chiếc TV bắt được sóng của chương trình này.
• Chiếc TV thương mại thành công đầu tiên bắt đầu xuất hiện tại các phòng trưng bày ở Mỹ vào đầu những năm 1950, nỗ lực phát triển TV màu xuất hiện từ đầu những năm 1950 và chiếc đầu tiên được hãng RCA giới thiệu năm 1954. sử n t n v p t tr ển n n ệ tru ền n s 1.1 Động l c r ờ tru ền n s Truyền hình tương tự có nhiều tiêu chuẩn là rào cản cho các dịch vụ truyền hình như NTSC, PAL, SECAM (Sequentiel couleur à mémoire - tuần tự các màu với bộ nhớ)… Các chuẩn của truyền hình tương tự đều có những phương tiện truyền dẫn tín hiệu cho riêng mình. Các chuẩn không có khả năng giao tiếp với nhau nên đòi hỏi các quốc gia phải có hệ thống truyền hình mặt đất cho riêng mình. Hệ thống truyền dẫn tín hiệu đã được thay thế bằng các hệ thống số từ 20 năm trước.
Các TV CRT hiển thị khuôn hình 4:3 không phát được các chương trình độ nét cao HDTV với chất lượng âm thanh và hình ảnh chân thực, sống động… Tất cả các lý do trên là động lực cho sự ra đời của công nghệ truyền hình số thay cho truyền hình tương tự. sử p t tr ển tru ền n s - Năm 1980, ngành truyền hình Mỹ do 3 mạng lưới chính thống trị, trong khi khán giả tại các nước châu Âu và châu Á bị giới hạn trong các lựa chọn chương trình. - 1972 Nhật Bản bắt đầu sản xuất và thử nghiệm chương trình HDTV. - Ngày 23/09/1988 BBC cho ra mắt dịch vụ truyền hình số (sau đó 1 tuần, các thiết bị cần thiết cho bộ thu cũng được bán trên thị trường).
Kênh truyền hình sử dùng truyền hình số được biết đến với cái tên BBC Showcase. - Ngày 5/11/1998 DTT cho ra đời ONdigital và đây cũng là dịch vụ truyền hình số mặt đất đầu tiên trên thế giới. Trần Thanh Lam – Cao học KTĐT K20.1 Đại học Giao thông vận tải 4 - Ngày 30/4/1999 S2 ( Kênh ITV thứ 2 của Scotland) được phát trên DTT. - Ngày 1/6/1999 BBC Knowledge được phát lúc 5h chiều.
Kênh này được biết đến với tên gọi BBC Learning. - Ngày 28/6/1999 TV-You (kênh ITV thứ 2 của Northern Ireland) được phát lúc 4h chiều. Như vậy toàn bộ nước Anh đến thời điểm này đã có thể sử dụng kênh ITV trên DTT. - Ngày 1/7/1999 MTV phát trên ONdigital.
- Ngày 1/8/1999 British Eurosport phát trên SkyDigital. - 2000 Nhật Bản phát sóng các chương trình HDTV đầu tiên. - Ngày 17 tháng 2 năm 2009, các Đài truyền hình Mỹ phát sóng duy nhất chỉ những tín hiệu số hoá, kết thúc các hoạt động của hệ thống truyền hình được sử dụng tại Hoa Kỳ suốt 55 năm qua. - 6/2010 Anh quốc đã ngưng phát sóng truyền hình tương tự.
- 24/7/2011 Nhật Bản đã chấm dứt phát sóng analog trên toàn quốc. - 31/12/2012 Hàn Quốc hoàn thành số hóa truyền hình trên phạm vi toàn quốc. Đ ểm tru ền n s Truyền hình số có những đặc điểm: - Xử lý dễ dàng bằng vi xử lý và các thuật toán - Có khả năng phát hiện lỗi, sửa sai và có khả năng chống nhiễu cũng như tăng hiệu quả băng thông, ít nhạy với nhiễu và các dạng méo xảy ra trên đường truyền giúp bảo toàn chất lượng hình ảnh. Thu tín hiệu số không còn hiện tượng “bóng ma” là hiện tượng do các tia sóng phản xạ từ nhiều hướng đến máy thu (đây là vấn đề mà hệ phát analog đang không khắc phục nổi).
- Có khả năng thu di động tốt. Người xem dù đi trên ôtô, tàu hỏa vẫn xem được các chương trình truyền hình (do xử lý tốt hiện tượng Doppler). - Truyền tải được nhiều loại hình thông tin, có thể phát triển các dịch vụ mới như dịch vụ internet. - Truyền hình số cho phép phát nhiều chương trình trên một kênh truyền hình giúp tiết kiệm tài nguyên tần số: Trần Thanh Lam – Cao học KTĐT K20.1 Đại học Giao thông vận tải 5 + Một trong những lợi điểm của truyền hình số là tiết kiệm phổ tần số.
+ Một bộ phát đáp vệ tinh 36MHz truyền được 2 chương trình truyền hình tương tự song có thể truyền được 10 đến 12 chương trình truyền hình số (gấp 5 đến 6 lần). + Một kênh 8 MHz (trên mặt đất) chỉ truyền được 1 chương trình truyền hình tương tự song có thể truyền được 4 đến 5 chương trình truyền hình số đối với hệ thống ATSC (Advanced Television System Committee) và 4 đến 8 chương trình đối với hệ DVB –T (Digital Video Broadcasting – Terrestrial) tùy thuộc kiểu điều chế, khoảng bảo vệ và FEC (Forward Error Correction). - Bảo toàn chất lượng: Có sự suy giảm chất lượng tín hiệu tương tự khi phát trên đường truyền có cự ly lớn, với tín hiệu số thì chất lượng được bảo đảm. - Tiết kiệm năng lượng, chi phí khai thác thấp vì công suất phát không cần quá lớn (độ nhạy máy thu số thấp hơn -30 đến -20 dB so với máy thu analog).
- Mạng đơn tần (SFN): Cho khả năng thiết lập mạng đơn kênh, nghĩa là nhiều máy phát trên cùng một kênh sóng.