Đặt vấn đề Một trong những vai trò quan trọng của hệ thực vật là nguồn dược liệu quý giá cho con người. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 1985 đã ước tính, trong số 250.000 loài thực vật đã biết trên thế giới, có tới 30.000 loài sử dụng làm thuốc ở các mức độ khác nhau. Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu – Bộ Y tế, đến cuối năm 2005 đã biết có 3.948 loài cây thuốc, thuộc 263 họ thực vật và Nấm với nhiều công dụng khác nhau. Trong đó nhiều loài trong số này đã và đang được người dân các vùng miền núi khai thác và sử dụng, đặc biệt là người dân đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo kết quả điều tra ban đầu, tỉnh Hà Giang có trên 1.100 loài cây dược liệu trong tổng số hơn 5000 loài cây dược liệu của cả nước; được đánh giá là vùng trọng điểm về đa dạng cây dược liệu quý, có giá trị kinh tế cao và là vùng trọng điểm của nước ta để phát triển cây dược liệu gắn với phát triển du lịch sinh thái vùng cao. Vị xuyên là một huyện miền núi biên giới phía Bắc Việt Nam, nằm bao quanh thành phố Hà Giang. Huyện Vị Xuyên nằm ở tọa độ địa lý 22°35′ đến 23°30′ vĩ độ Băc, 104°45′ đến 105°10′ độ kinh Đông. Trung tâm huyện lị cách thành phố Hà Giang 20km về phía nam.
Phía bắc giáp huyện Quản Bạ, phía tây giáp huyện Ma li pho tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và huyện Hoàng Su Phì, phía nam giáp huyện Bắc Quang, phía đông giáp thành phố Hà Giang và huyện Na Hang (Tuyên Quang). Với tổng diện tích tự nhiên gần 148 nghìn ha, diện tích rừng và đất lâm nghiệp gần 121 nghìn ha. Trong đó, diện tích đất có rừng là trên 100. Do dân số sống ở nông thôn còn đông, cuộc sống người dân còn nhiều khó khăn, trình độ Luan van 2 dân trí chưa thật sự cao vì vậy cuộc sống của họ thường xuyên lệ thuộc vào rừng như: khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của họ.
Mặt khác do nhu cầu thị trường về các sản phẩm từ rừng ngày càng cao công tác quản lý chưa chặt chẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến đa dạng sinh học, dẫn đến nhiều loài thực vật quý hiếm, có giá trị đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao, thậm chí một số loài không còn khả năng tái tạo. Cây Kim Ngân còn gọi là dây Nhẫn đông, Boóc Kim ngân,. là một loài thực vật có tại Vị Xuyên và được sử dụng làm dược liệu tương đối phổ biến, có tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt, lở ngứa, dị ứng,.; Cây Kim ngân dễ dàng thích nghi trong điều kiện môi trường sống dù có khắc nghiệt, có thể trồng xen kẽ với một số loại cây ăn quả. Trồng Kim ngân với diện tích lớn sẽ tạo nhiều công ăn việc làm, sử dụng được nhiều lao động tham gia khai trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, tiêu thụ.
Hơn nữa cũng góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương. Tuy nhiên nguồn giống của loài cây này chưa đảm bảo cả về số lượng và chất lượng. Do vậy, việc phát triển vùng nguyên liệu tại đây cho ngành dược còn gặp rất nhiều khó khăn. Đứng trước tình hình đó việc tiến hành những nghiên cứu về các đặc điểm nông sinh học, sinh thái học của các loài thực vật từ đó làm cơ sở để nghiên cứu sâu hơn và đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn và nhân giống là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi đã tiến hành lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học, sinh thái học của loài cây Kim ngân (Lonicera japonica Thunb) tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang”. Mục tiêu - Đánh giá được đặc điểm nông sinh học của cây Kim Ngân tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Luan van 3 - Đánh giá được đặc điểm sinh thái học của cây Kim Ngân tại huyện vị xuyên, tỉnh Hà Giang. - Đề xuất được một số giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát triển cây Kim Ngân tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn. - Tạo điều kiện cho sinh viện học hỏi những kiến thức và kinh nghiệm từ cán bộ, người dân địa phương giúp bổ sung kiến thức, nâng cao năng lực, kỹ năng, thái độ làm việc. - Kết quả của đề tài nghiên cứu sẽ làm tài liệu tham khảo cho việc bảo tồn và nhân rộng loài cây Kim ngân.
Ý nghĩa về thực tiễn trong sản xuất Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp bảo tồn và phát triển cây Kim ngân một cách hợp lý. Việc nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học, sinh vật học loài cây Kim ngân tại khu vực nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật gây trồng hợp lý loài cây này. Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.
Cơ sở sinh học Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam sự đa dạng sinh học về các loài sinh vật ngày càng suy giảm làm cho số lượng của chúng giảm đi từng ngày đặc biệt là các loài thực vật quý hiếm. Quá trình đô thị hóa, ô nhiễm môi trường, chặt phá rừng làm cho nhiều hệ sinh thái và môi trường sống ngày càng thu hẹp về diện tích, nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong tương lai gần. Do vậy việc nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài là vô cùng quan trọng và cần thiết để hiểu rõ hơn về đặc tính của loài, từ đó đưa ra các biện pháp tác động phù hợp nhằm bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường,… làm cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên. Cơ sở bảo tồn Hiện nay số lượng các loài động, thực vật đang bị suy giảm mạnh làm ảnh hưởng lớn đến sự đa dạng sinh học, sự sống của các loài động, thực vật đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Vấn đề cấp thiết đặt ra là phải phân cấp và đánh giá từng loài động, thực vật ở từng mức độ nghiêm trọng khác nhau để từ đó đề xuất các biện pháp nhằm bảo tồn một cách có hiệu quả nhất. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, Chính phủ Việt Nam đã công bố sách đỏ Việt Nam (2007) để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Các loài được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng: Tốc độ suy thoái, kích thước quần thể, Phạm vi phân bố và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố. Luan van 5 Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và đa dạng sinh học, có rất nhiều loài thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
Một trong những loài thực vật cần được bảo tồn và nhân rộng là loài Kim ngân (Lonicera japonica Thunb). Đó là cơ sở khoa học giúp tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện khóa luận. Đối với bất kì công tác bảo tồn một loài động, thực vật nào đó thì việc tiến hành tìm hiểu tình hình phân bố, hiện trạng nơi phân bố là điều hết sức cấp thiết. Tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang tôi tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu đặc điểm nông sinh học, sinh thái học của loài Kim ngân (Lonicera japonica Thunb).
Thông tin về cây Kim ngân Cây Kim ngân còn có các tên gọi khác như Nhẫn đông, Ngân hoa, Song hoa, Nhị hoa, Boóc kim ngần (Tày), Chừa giang khằm (Thái). Kim ngân có tên Khoa học là Lonicera japonica Thunb. - Đặc điểm thực vật học: Kim ngân thuộc họ Kim ngân (Caprifoliaceae). Dây leo bằng thân quấn phân cành nhiều Lá mọc đối, hình trái xoan cỡ 3 - 7 x 2 - 3 cm, không lông, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới hơi nhạt màu.
Cụm hoa xim mọc từng đôi từ kẽ lá, tập trung ở đầu cành, cuống lá rất ngắn, lá bắc dạng lá. Hoa hình ống màu trắng sau ngả vàng nhạt, có mùi thơm, dài 3 - 4 cm, đài nhỏ. Cánh hoa 5 chỉ có 2 cánh hợp thành 1 môi cánh hoa ngắn hơn nhiều so với ống hoa. Nhị 5, nhị nhỏ, vòi nhụy dài hơn nhị.
Quả hình trứng dài 0,5 - 0,6 mm có 1 hạt nhỏ (Võ Văn Chi, 1997). - Đặc điểm nông sinh học: Kim ngân thường mọc hoang ở những vùng rừng núi, ưa ẩm và ưa sáng. Kim ngân thích nghi với điều kiện khí hậu và đất đai khác nhau, thường phân bố ở miền núi, trung du và đồng bằng và ở nơi mát, cây sinh trưởng nhanh, còn ở những vùng nóng (34oC - 37oC) cây phát Luan van 6 triển chậm. Đất trồng Kim ngân cần thoát nước và màu mỡ (Võ Văn Chi, 1997; Lê Trần Đức, 1997).
- Phân bố: Kim ngân mọc hoang hay được trồng nhiều ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai, Ninh Bình,… (Võ Văn Chi, 1997). Cây Kim ngân Giá trị của Kim ngân: Ở Việt Nam từ lâu con người đã biết đến và sử dụng cây Kim ngân để làm thuốc. Họ cho rằng cây Kim ngân có tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt, lở ngứa, dị ứng… Người dân thường sử dụng chủ yếu là hoa, ngoài ra còn lấy cành và lá để đun nước tắm (Lê Trần Đức, 1997). Năm 1967, Đỗ Tất Lợi, Nguyễn Năng An và Bùi Chí Hiếu (Hội nghị thuốc năm lần thứ 4, Hà Nội) đã báo cáo nước sắc kim ngân có khả năng ngăn chặn choán phản vệ trên chuột lang : Trên chuột lang được uống kim ngân, số lượng và chất lượng tế bào hạt (mastocytes) ở mạng treo chuột ít thay đổi, lượng histamin ở phổi chuột lang bị choáng phản vệ cao gấp rưỡi so với chuột lang bình thường hay đã được uống kim ngân trước khi gây choáng phản vệ.
Độ độc : các tác giả trên (Đỗ Tất Lợi, Nguyễn Năng An và Bùi Chí Hiếu) còn cho biết chuột nhắc trắng uống liên tục trong 7 ngày với liều gấp 150 lần điều trị cho người chuột vẫn sống bình thường, giải phẫu các bộ phận không thay đổi gì đặc biệt.