Chương 1: Tổng quan về thông tin liên lạc vệ tinh địa tĩnh. Chương 2: Đa truy nhập trong hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh. Chương 3: Chương trình ứng dụng (Trình bày các giao thức truyền thông theo mô hình TCP/IP. Các kết quả phân tích và xử lý đối với số liệu đăng ký được trên thông tin liên lạc vệ tinh).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 14 - Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ THÔNG TIN LIÊN LẠC VỆ TINH ĐỊA TĨNH 1. Giới thiệu chung về TTLL vệ tinh địa tĩnh 1. Đặc điểm thông tin vệ tinh địa tĩnh Sau khi được phóng vào vũ trụ dùng cho thông tin vệ tinh, vệ tinh sẽ khuyếch đại sóng vô tuyến điện nhận được từ các trạm mặt đất và phát lại sóng vô tuyến điện đến các máy ở trạm mặt đất khác.
Loại vệ tinh nhân tạo như vậy gọi là vệ tinh thông tin. Khi quan sát từ mặt đất, sự di chuyển của vệ tinh theo quỹ đạo bay người ta thường phân vệ tinh làm hai loại: Vệ tinh quỹ đạo thấp và vệ tinh quỹ đạo địa tĩnh. Hình 1-1: Quỹ đạo các vệ tinh Vệ tinh quỹ đạo địa tĩnh: là vệ tinh được phóng lên quỹ đạo tròn ở độ cao khoảng 36.000km so với đường kính xích đạo. Vệ tinh này bay xung quanh trái đất 1 vòng mất 24 giờ.
Do chu kỳ bay của vệ tinh bằng chu kỳ quay của Trái đất và cùng hướng (hướng Đông), bởi vậy vệ tinh dường như đứng yên khi quan sát từ mặt đất. Nói tới thông tin vệ tinh, chúng ta phải kể đến các ưu điểm nổi bật của nó so với các hệ thống thông tin khác như sau: + Có khả năng đa truy nhập. + Vùng phủ sóng của vệ tinh khá rộng, chỉ cần 3 vệ tinh địa tĩnh thì có thể phủ sóng toàn cầu; dải thông rộng. + Ổn định cao, chất lượng và khả năng thông tin băng rộng.
+ Hệ thống truyền tin vệ tinh có thể phục vụ nhiều dịch vụ khác nhau: Thoại, phi thoại, thăm dò địa chất, định vị toàn cầu, …, phục vụ các mục đích quốc phòng an ninh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 15 - + Hiệu quả kinh tế cao cho thông tin đường dài, xuyên lục địa. Có khả năng quảng bá rộng lớn cho mọi loại địa hình. + Các thiết bị phát sóng dùng trong hệ thống thông tin vệ tinh chỉ cần công suất bé, còn thiết bị điện tử đặt trên vệ tinh có thể tận dụng năng lượng mặt trời để cung cấp điện cả ngày lẫn đêm.
Sóng vô tuyến điện phát đi từ một vệ tinh trên quỹ đạo địa tĩnh có thể bao phủ 1/3 toàn bộ bề mặt quả đất. Bởi vậy các trạm mặt đất thuộc vùng đó có thể liên lạc với bất kỳ một trạm mặt đất nào thuộc vùng phủ sóng thông qua vệ tinh thông tin. Do khả năng phủ sóng rộng lớn nên vệ tinh rất thích hợp cho các phương thức truyền tin đa điểm đến đa điểm, điểm đến đa điểm (cho dịch vụ quảng bá) hay đa điểm đến một điểm trung tâm HUB (cho dịch vụ thu thập số liệu). Bên cạnh khả năng phủ sóng rộng lớn, băng tần rộng của hệ thống vệ tinh rất thích hợp với các dịch vụ quảng bá hiện tại như truyền hình số phân giải cao HDTV (High Definition Television), phát thanh số hay dịch vụ ISDN thông qua một mạng mặt đất hoặc trực tiếp đến thuê bao DTH (Direct To Home) thông qua trạm VSAT(Very Small Aperture Terminal).
Cuối cùng do sử dụng phương tiện truyền dẫn qua giao diện vô tuyến cho nên hệ thống thông tin vệ tinh là rất thích hợp cho khả năng cấu hình lại nếu cần thiết. Các công việc triển khai mạng mới, loại bỏ các trạm cũ hoặc thay đổi tuyến đều có thể thực hiện dễ dàng, nhanh chóng với chi phí thực hiện tối thiểu. Kỹ thuật sử dụng một vệ tinh chung cho nhiều trạm mặt đất và việc tăng hiệu quả sử dụng của nó tới cực đại gọi là đa truy nhập. Tuy nhiên thông tin vệ tinh có những nhược điểm quan trọng: - Khoảng cách truyền dẫn xa nên sóng vô tuyến điện bị hấp thụ và suy hao lớn ở tầng điện ly và khí quyển đặc biệt trong mưa, ảnh hưởng của tạp âm lớn.
- Giá thành lắp đặt hệ thống, kinh phí ban đầu để phóng một vệ tinh lên quỹ đạo là rất cao, tốn kém nhưng xác suất rủi ro vẫn có thể tồn tại. - Thời gian sử dụng hạn chế, khó bảo dưỡng, sửa chữa và nâng cấp. - Do đường đi của tín hiệu vô tuyến truyền qua vệ tinh địa tĩnh khá dài (hơn 70.000 km) nên từ điểm phát đến điểm nhận sẽ có thời gian trễ đáng kể. Trong thực tế vệ tinh luôn có sự chuyển động tương đối đối với mặt đất, dù là vệ tinh địa tĩnh nhưng vẫn có một sự dao động nhỏ.
Điều này buộc trong hệ thống phải có các trạm điều khiển nhằm giữ vệ tinh ở một vị trí nhất định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 16 - Thêm nữa do các vệ tinh bay trên quỹ đạo cách rất xa mặt đất với tổng chiều dài từ đường lên và đường xuống là trên 70.000Km thì thời gian truyền trễ là đáng kể = 1/4 giây mặc dù tốc độ truyền sóng là rất cao 300.000Km/s cho nên việc truyền sóng giữa các trạm phải chịu sự suy hao lớn, bị ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết và phải đi qua nhiều loại môi trường khác nhau. Chi phí phóng vệ tinh là rất cao cho nên nói chung các vệ tinh có khả năng hạn chế. Bù lại, các trạm mặt đất phải có khả năng làm việc tương đối mạnh nên các thiết bị phần lớn đều đắt tiền, nhất là chi phí cho anten lớn (Một anten có đường kính 18m giá khoảng 5-7 triệu USD).
Các vệ tinh bay trong không gian cách xa mặt đất, năng lượng chủ yếu dùng cho các động cơ phản lực điều khiển là các loại nhiên liệu lỏng. Lượng nhiên liệu dự trữ này không thể quá lớn vì khả năng của các tên lửa đẩy có hạn và phụ thuộc vào kích thước vệ tinh. Nếu vệ tinh đã dùng hết lượng nhiên liệu này thì chúng coi như hết khả năng sử dụng và vì thế tuổi thọ của vệ tinh nói chung thường thấp hơn so với các thiết bị thông tin mặt đất khác. Việc khôi phục vệ tinh hoạt động trở lại hết sức tốn kém và phức tạp nên trên thực tế người ta thường thay thế bằng một vệ tinh hoàn toàn mới.
Cấu trúc tổng quát hệ thống truyền tin vệ tinh Cấu trúc khái quát của một hệ thống vệ tinh gồm: - Phân đoạn không gian (space segment) - Phân đoạn mặt đất (ground segment) Đường hướng từ trạm mặt đất phát đến vệ tinh được gọi là đường lên. Đường vệ tinh đến trạm mặt đất gọi là đường xuống. Hình 1-2: Cấu hình khái quát một hệ thống thông tin vệ tinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân đoạn không gian Phân đoạn không gian của một hệ thống thông tin vệ tinh bao gồm vệ tinh cùng các thiết bị đặt trong vệ tinh và hệ thống các trang thiết bị đặt trên mặt đất để kiểm tra theo dõi và điều khiển hành trình của vệ tinh (cả hệ thống bám, đo đạc và điều khiển).
Bản thân vệ tinh bao gồm hai phần: phần tải (payload) và phần thân nền vệ tinh (platform). Phần tải bao gồm hệ thống các anten thu/phát và tất cả các thiết bị điện tử phục vụ cho việc truyền dẫn và xử lý tín hiệu qua vệ tinh. Phần thân nền vệ tinh bao gồm các hệ thống phục vụ cho phần tải vệ tinh hoạt động như cấu trúc vỏ, khung vệ tinh, nguồn cung cấp điện, … Các sóng được truyền từ trạm mặt đất lên vệ tinh được gọi là tuyến lên (uplink). Vệ tinh thu các sóng từ tuyền lên, xử lý, biến đổi tần số, khuếch đại và truyền các sóng vô tuyến đó trở về trạm mặt đất gọi là tuyến xuống (downlink).
Các bộ phát đáp được đặt trong vệ tinh để thu tín hiệu từ tuyến lên, biến đổi tần số, khuếch đại công suất và truyền trở lại tuyến xuống. Vệ tinh trong trường hợp này đóng vai trò một trạm trung chuyển tín hiệu giữa các trạm mặt đất và được xem như là một nút của mạng với hai chức năng chính: - Khuếch đại các sóng mang thu được từ tuyến lên để sử dụng cho việc truyền lại trên tuyến xuống. - Thay đổi tần số sóng mang (giữa thu và phát) nhằm tránh một phần công suất phát tác động trở lại phía đầu vào đầu thu. Ngoài hai nhiệm vụ chủ yếu trên, thông thường vệ tinh còn có một số chức năng khác tùy thuộc vào tính chất của vệ tinh.
Bộ khuếch Bộ khuếch Bộ chuyển đổi xuống đại công Tín hiệu từ Bộ lọc đại tạp âm Bộ lọc suất đèn Tuyến tuyến lên thông thấp thấp thông thấp sóng chạy xuống BPF LNA BPF TWTA Anten thu Anten phát 6 GHz 4 GHz LO Bộ dao động nội Hình 1-3: Sơ đồ khối chức năng của một bộ phát đáp đơn giản Phần tải của vệ tinh viễn thông được đặc trưng bởi các thông số kỹ thuật sau: - Dải tần công tác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 18 - - Số lượng bộ phát đáp - Độ rộng dải thông qua mỗi bộ phát đáp - Phân cực sóng của tuyến lên và tuyến xuống - Vùng phủ sóng yêu cầu. Băng tần phân bổ cho bộ phát đáp của vệ tinh có thể từ vài trăm MHz đến vài chục GHz, thường được chia thành các băng tần con. Phân đoạn mặt đất Phân đoạn mặt đất gồm tất cả các trạm mặt đất của hệ thống và chúng thường được kết nối với các thiết bị của người sử dụng thông qua các mạng mặt đất. Các trạm mặt đất được phân loại tùy thuộc vào kích cỡ trạm và loại hình dịch vụ.
Hình 1-4: Sơ đồ khối chức năng của một trạm mặt đất đơn giản 1. Nguyên lý thông tin liên lạc vệ tinh địa tĩnh Nguyên lý hoạt động của hệ thống thông tin vệ tinh có thể được tóm tắt: Tại đầu phát trạm mặt đất, tín hiệu băng tần cơ bản BB (BaseBand) như: tín hiệu thoại, video, telex, fax,… được điều chế lên thành trung tần IF (Intermediate Frequency) sau đó được đổi lên thành cao tần RF (Radio Frequency) nhờ bộ đổi tần tuyến lên U/C (Up Coverter), rồi được bộ khuếch đại công suất HPA (High Power Amplifier) khuếch đại lên mức công suất cao và đưa ra anten phát lên vệ tinh.