Chương 1 Khi thành viên cuối cùng rời khỏi nhóm, DR sẽ ngưng chuyển tiếp lưu lượng multicast và gửi bản tin PIM-Loại trừ (*,G) đến các router PIM ở phía nguồn phát. Tuy nhiên để đảm bảo rằng trước khi ngưng chuyển tiếp cho một nhóm thì không còn host nào của nhóm đang nhận lưu lượng, DR sẽ gửi đi bản tin “Truy vấn thành viên” IGMP hoặc MLD đến link. Nếu vẫn còn host đang nhận lưu lượng thì host đó sẽ gửi bản tin “Báo cáo thành viên”, khi đó DR sẽ vẫn tiếp tục chuyển tiếp lưu lượng cho nhóm. Thông tin trạng thái thành viên chỉ là tạm thời.
Tất cả các host nhận lưu lượng sẽ phải “Báo cáo thành viên” khi nhận được các bản tin “Truy vấn thành viên” định kỳ. Tương tự, tất cả các router PIM cũng phải cập nhật tình trạng gia nhập và rời khỏi nhóm bằng cách gửi đi các bản tin này đến các router lân cận. Kết nối đa vùng multicast Internet bao gồm một vài vùng quản lý gọi là các hệ thống tự trị (AS). Mỗi AS sẽ có một chính sách định tuyến rõ ràng, riêng biệt.
Xét về định tuyến multicast thì một hệ thống AS sẽ bao gồm một tập hợp các điểm hội tụ RP. Các router sử dụng chung một tập hợp RP tạo thành một vùng multicast. Tuy nhiên chỉ có một RP có thông tin về các nguồn hoạt động của nhóm ASM, do đó phải có sự hỗ trợ liên vùng ASM và phối hợp giữa các router multicast, hoặc tất cả vùng multicast trên mạng đều phải sử dụng chung một tập các RP, hoặc thông tin của các nguồn hoạt động trên mạng phải được truyền đi bằng các phương tiện khác. Nếu không có sự phối hợp thì các nguồn thu multicast không thể nhận được lưu lượng multicast từ các vùng multicast khác nhau.
Trịnh Quang Khải HVTH: Hoàng Thị Ngoan 18 Nghiên cứu cơ chế phiên dịch multicast IPv4 sang IPv6 Chương 1 1. Giao thức phát hiện nguồn multicast MSDP Giao thức phát hiện nguồn multicast MSDP cung cấp một phương pháp chuyển giao thông tin về các nguồn multicast hoạt động giữa các RP trong các vùng multicast khác nhau. Khi một nguồn mới đăng ký với một RP, RP này sẽ gửi một bản tin “Nguồn hoạt động” đến tất cả các RP khác để tuyên truyền thông tin về nguồn hoạt động giữa các vùng multicast. Nếu một RP nhận được một bản tin “Gia nhập” của một nhóm mà trong nhóm đã có nguồn hoạt động thì RP này sẽ gửi bản tin “Gia nhập (S,G)” đến mỗi nguồn trong nhóm để nhận lưu lượng theo yêu cầu.
Lưu lượng từ các nguồn này đầu tiên sẽ được chuyển tiếp thông qua cây truyền dẫn RP, nhưng sau đó nó sẽ được chuyển tiếp qua cây truyền dẫn ngắn nhất được xây dựng riêng cho từng nguồn. MSDP chỉ được sử dụng riêng cho IPv4, IPv6 không sử dụng phương pháp này. RP nhúng Trong mạng IPv6 không sử dụng MSDP mà sử dụng phương pháp nhúng RP. RP nhúng không thực hiện chuyển giao thông tin về các nguồn hoạt động cho các RP khác.
Phương pháp này cho phép sử dụng một RP đơn cho tất cả các địac chỉ nhóm multicast trong mạng. Tất cả các vùng multicast sẽ sử dụng cùng một RP, do đó thông tin về các nguồn hoạt động không phải truyền tải lòng vòng trong mạng. Phương pháp RP nhúng tận dụng được ưu điểm không gian địa chỉ dành cho multicast rất lớn của IPv6. RP nhúng xác định một chính sách phân bố địa chỉ multicast, trong đó địa chỉ của các RP phụ trách nhóm ASM được nhúng CBHD: TS.
Trịnh Quang Khải HVTH: Hoàng Thị Ngoan 19 Nghiên cứu cơ chế phiên dịch multicast IPv4 sang IPv6 Chương 1 vào trong địa chỉ nhóm multicast. Các địa chỉ có tiền tố FF70::/12 được sử dụng cho các RP nhúng. RP nhúng cũng xác định một cơ chế ánh xạ từ nhóm nguồn – RP, cơ chế này cho phép các router PIM-SM lựa chọn RP cho nhóm bằng cách sử dụng địa chỉ RP nhúng. Các DR sử dụng địa chỉ RP nhúng cho các bản tin PIM- Đăng ký và bản tin Gia nhập.
SSM và đa vùng multicast Việc chuyển phát lưu lượng các nguồn SSM giữa các vùng SSM thì đơn giản hơn là chuyển phát lưu lượng các nguồn ASM. Một kênh SSM xác định rõ địa chỉ nguồn gửi S và nguồn nhận G là các nhóm multicast (S,G). DR sẽ luôn xây dựng được cây truyền dẫn ngắn nhất bằng cách gửi bản tin PIM- “Gia nhập (S,G)” đến nguồn gửi. Mặt khác, các thiết bị trong mạng cũng sẽ biết được địa chỉ của nguồn nếu nhận được các ứng dụng multicast từ nguồn.
Các phương pháp truyền tải IPTV Các hệ thống DVB-IPVT (Digital Video Broadcasting – Internet Protocol Television) sử dụng sử dụng phương pháp truyền tải MPEG-2 (Moving Picture Experts Group – 2) viết tắt là MTS (MPEG-2 Transport Streams) để truyền tải tín hiệu truyền hình số. DVB BlueBook A086 Rev.7 xác định hai phương pháp truyền tải MTS qua mạng Internet đó là giao thức truyền tải thời gian thực RTP (Real-time Transport Protocol) và truyền tải trực tiếp trên UDP. Trịnh Quang Khải HVTH: Hoàng Thị Ngoan 20 Nghiên cứu cơ chế phiên dịch multicast IPv4 sang IPv6 Chương 1 1. Giao thức truyền tải thời gian thực RTP.
RTP là một giao thức của lớp truyền tải được định nghĩa dành riêng cho việc truyền tải dữ liệu thời gian thực như tín hiệu video, audio, tín hiệu truyền hình số. RTP được sử dụng trên UDP. RTP bổ sung cho UDP một số header để sử dụng trong truyền tải đa phương tiện. RTP thường đi kèm với giao thức điều khiển RTP (RTCP).
RTCP cung cấp phương pháp thu thập số liệu thống kê, xác định thành phần tham gia và đồng bộ hóa các luồng RTP. Điều quan trọng nhất là RTP đánh số thứ tự trong các gói tin. Số thứ tự này được sử dụng để sắp xếp thứ tự các gói tin đầu vào theo thứ tự đầu ra. Số thứ tự cũng giúp xác định việc mất gói tin hay gói tin bị lặp lại.
Một gói RTP có thể mang tối đa bảy gói MTS, và mỗi gói MTS trong RTP đều được đánh số thứ tự và mỗi gói RTP cũng được đánh số thứ tự. Một gói RTP trong IPv4 có thể dài tối đa là 1356 byte và trong IPv6 là 1376 byte. Truyền dẫn MTS trực tiếp trên UDP. MTS có thể được vận chuyển trực tiếp trên UDP.
Phương pháp vận chuyển này hiệu quả hơn vận chuyển bằng RTP bởi vì không cần gắn thêm phần header của RTP, tuy nhiên phương pháp này không cho phép đánh số thứ tự của gói tin. Vì vậy, nếu sử dụng truyền tải trực tiếp trên UDP thì phải yêu cầu một mạng không đánh thứ tự gói. Tương tự như RTP, các gói MTS trong UDP đều được đánh số thứ tự. Một gói UDP cũng bao gồm bảy gói MTS, kích thước tối đa của một gói UDP trong mạng IPv4 là 1344 byte, và trong IPv6 là 1364 byte.
Trịnh Quang Khải HVTH: Hoàng Thị Ngoan 21 Nghiên cứu cơ chế phiên dịch multicast IPv4 sang IPv6 Chương 1 1. Bộ phiên dịch truyền tải chuyển tiếp IPv6-IPv4 (TRT) TRT là một hệ thống phiên dịch truyền tải chuyển tiếp IPv6-IPv4 (IPv6- to-IPv4 Transport Relay Translator) viết tắt là TRT. TRT cho phép các host IPv6 thông tin với các host IPv4 bằng các giao thức TCP và UDP. TRT thực hiện phiên dịch giữa các host IPv4 và IPv6 nhưng TRT không yêu cầu bất cứ sự chuyển đổi nào từ phía các đầu cuối.
Tuy nhiên TRT không hỗ trợ phiên dịch multicast. TRT ánh xạ toàn bộ không gian địa chỉ IPv4 sang một tiền tố đặc biệt của IPv6, tiền tố này do nhà quản trị mạng lựa chọn. Tất cả lưu lượng chuyển đến tiền tố này đều được định tuyến đến một hệ thống TRT. Ví dụ như tiền tố 2001:DB8::/64 được chọn là tiền tố đặc biệt thì lưu lượng chuyển đến một địa chỉ bất kỳ của tiền tố này, như địa chỉ 2001:DB8::10.1, sẽ được gửi đến một hệ thống TRT để chuyển đến địa chỉ 10.1 trong mạng IPv4.
Khi hệ thống TRT nhận được các gói tin TCP hoặc UDP ở đầu vào, hệ thống sẽ chấp nhận các gói này nếu địa chỉ đích ánh xạ là địa chỉ nội bộ của hệ thống. Đối với mỗi gói TCP hoặc UDP hệ thống sẽ thiết lập các kết nối tương ứng trong mạng IPv4. Địa chỉ đích cho mỗi kết nối IPv4 được lấy từ các địa chỉ ánh xạ. Địa chỉ giao diện của hệ thống TRT được xem như địa chỉ nguồn đối với các gói TCP hoặc UDP trong mạng IPv4.
Một hệ thống TRT thiết lập các kết nối TCP và UDP riêng biệt nhau cho mỗi cuộc thoại. Do đó TRT là một cơ chế phiên dịch trạng thái, khi số lượng các cuộc thoại tăng lên thì số kết nối tăng và nguồn tài nguyên hệ thống phiên dịch yêu cầu cũng tăng lên. Đây cũng là lý do khiến TRT thất bại. Nếu sử dụng TRT với quy mô lớn, hệ thống đòi hỏi phải thiết lập một DNS server để thực hiện việc ánh xạ địa chỉ.
Hoặc là thiết lập một host thành DNS server để phiên dịch đối với các dịch vụ IPv4 được lựa chọn. Trịnh Quang Khải HVTH: Hoàng Thị Ngoan 22 Nghiên cứu cơ chế phiên dịch multicast IPv4 sang IPv6 Chương 1 1. Thuật toán phiên dịch IP/ICMP phi trạng thái (SIIT) Thuật toán phiên dịch IP/ICMP phi trạng thái (SIIT) là một thuận toán phi trạng thái để phiên dịch header từ IPv4 sang IPv6 và ngược lại. SIIT cho phép các host của các mạng IPv4 thuần túy và IPv6 thuần túy liên lạc với nhau.
Tuy nhiên SIIT không phải là giải pháp hoàn chỉnh, nó chỉ cho phép phiên dịch phần header, và như vậy thì SIIT mới chỉ thực hiện được một phần công việc phiên dịch. SIIT nhúng địa chỉ IPv4 sang địa chỉ IPv6 theo hai cách. Các địa chỉ IPv6 được ánh xạ từ địa chỉ IPv4 được sử dụng để truy xuất đến địa chỉ của các host IPv4 theo định dạng địa chỉ IPv6. Một địa chỉ IPv6 ánh xạ từ địa chỉ IPv4 có cấu trúc ::FFFF:1.4 là địa chỉ của host trong mạng IPv4.
Địa chỉ IPv4 phiên dịch được sử dụng cho các host của mạng IPv6 làm địa chỉ nguồn. Định dạng của địa chỉ IPv4 phiên dịch có một phần giống như địa chỉ IPv4 ánh xạ. Một địa chỉ IPv4 phiên dịch có dạng ::FFFF:0:0:2.5 là địa chỉ của các host IPv6 trong mạng IPv4. Để hỗ trợ SIIT, các host IPv6 phải được thay đổi để có thể có được và sử dụng được địa chỉ nguồn IPv4 phiên dịch.
Tất cả lưu lượng giữa hai host IPv4 và IPv6 sẽ được định tuyến qua hệ thống phiên dịch SIIT. Khi SIIT nhận được các gói tin IPv4 hoặc IPv6, hệ thống sẽ tiến hành phiên dịch các tiêu đề IPv4 và IPv6, tận dụng các địa chỉ IPv4 ánh xạ và địa chỉ IPv4 phiên dịch.