CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ASEN TRONG NƯỚC DƯỚI ĐẤT Việc gia tăng hàm lượng và dịch chuyển của As trong NDĐ đang là vấn đề được quan tâm liên quan tới chất lượng nước và sức khoẻ người dân tại một số đồng bằng châu thổ lớn trên thế giới như Tây Bengal (Ấn Độ), Bangladesh, Đài Loan, một số vùng ở Achentina, Canađa, Mỹ và ĐBBB - Việt Nam. Rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện tại các khu vực này [47], [54], [60], [67], [77], [94], [95]. Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào các vấn đề như phân bố của As trong các TCN, các quá trình địa hoá và thuỷ địa hoá liên quan đến giải phóng As vào NDĐ và mô hình số thuỷ địa hoá mô phỏng quá trình giải phóng As từ trầm tích vào NDĐ. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các công trình khoa học nghiên cứu As đã công bố cho thấy, các công trình nghiên cứu này đều sử dụng đa dạng các phương pháp nghiên cứu khác nhau để giải quyết vấn đề hàm lượng cao và sự dịch chuyển của As trong NDĐ.
Đồng thời đề xuất các giải pháp ngăn chặn, giảm thiểu nguy cơ, hạn chế ô nhiễm As đối với các TCN là đối tượng khai thác chính. Như vậy, có thể phân ra nhóm các kết quả công bố như sau: 1. Nhóm đánh giá hiện trạng và xác định cơ chế giải phóng As vào NDĐ Việc gia tăng hàm lượng As trong NDĐ là vấn đề nghiêm trọng đối với chất lượng nước tại một số đồng bằng châu thổ trên thế giới như Tây Bengal (Ấn Độ), Băngladesh, Đài Loan, một số vùng ở Achentina, Canađa, Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng As trong NDĐ nhiều nơi đã vượt quá giới hạn cho phép của WHO (10µg/L) như ở Manikaganj, Harirampar, Faridpur, Gopalganj (Bangladesh) có 14/19 mẫu vượt quá tiêu chuẩn cho phép của Bangladesh (50µg/L), riêng vùng Harirampar cả 4 mẫu đều trên 100µg/L [47], [90].
Hàm lượng cao của As có thể tìm thấy lên tới 1. Còn ở phía tây nam Đài Loan hàm lượng As trung bình từ 147 - 671µg/L và người dân sử dụng nước ở đây đã bị bệnh đen chân 11 (blackfoot) [83], [93]. Hai khu vực của Achentina là San Antonio delos Codres và Taco Poro, mỗi nơi có hàm lượng As khoảng 200µg/L [86]. Ô nhiễm As trong NDĐ ở phía đông sông Hoogky, một nhánh của sông Hằng phía tây Bengal đã được báo cáo từ đầu năm 1978.
Nhóm bệnh nhân đầu tiên được phát hiện vào 7/1983 [67]. Kể từ đó phạm vi ảnh hưởng và số bệnh nhân mới ngày càng tăng. Khu vực ảnh hưởng rộng 3.400km2, xấp xỉ 30 triệu dân, số người sử dụng nước nhiễm độc As lên tới 1 triệu người, trong đó hơn 200.000 người đã được xác nhận là có triệu chứng nhiễm độc As. Đây là vụ nhiễm độc As lớn nhất trong lịch sử và ô nhiễm As trong NDĐ đã trở thành một vấn đề quốc gia [67].
Một cuộc khảo sát của Michael Berg và cộng sự (2007) [34] thực hiện ở tỉnh Kandal nằm ở ồng bằng châu thổ giữa hai con sông Bassac và Mekong, Campuchia. Kết quả thu được cho thấy: NDĐ ở khu vực có hàm lượng As nằm trong khoảng từ 1 - 1. Thêm vào đó, hàm lượng As cao tương ứng với điều kiện khử trong TCN qh, ở đó hàm lượng trung bình của NH4+ (6,0mg/L), DOC (3,9mg/L), Fe(II) (2,8mg/L), Mn(II) (0,62mg/L) đều cao. Tác giả cũng tìm thấy mối tương quan thuận giữa As và NH4+, DOC được xem như là một bằng chứng cho thấy NDĐ có môi trường khử và diễn ra quá trình khử hòa tan các khoáng vật oxit có chứa As.
Shamsudduha và Uddin (2007) [84] nghiên cứu ảnh hưởng của sự dịch chuyển đường bờ biển trong Đệ Tứ và điều kiện ĐCTV đến sự phân bố As trong các TCN ở đồng bằng Bengal. Quá trình biển tiến trong Holocen đã làm hình thành nên các tầng trầm tích giàu vật liệu hữu cơ với điều kiện môi trường khử là nguồn cung cấp chủ yếu As cho NDĐ. Cao độ tuyệt đối và dốc địa hình cũng có ảnh hưởng lớn tới đặc điểm phân bố As trong NDĐ bởi các kết quả cho thấy hàm lượng As cao được tìm thấy ở những vị trí có địa hình thấp và bằng phẳng. Một nghiên cứu của Benjamin D.
Kocar và nnk (2008) [55] được tiến hành ở vùng đồng bằng châu thổ sông Mê-Kong gần thủ đô Phnom Pênh, Căm-pu-chia với mục đích tìm hiểu các quá trình thủy văn và sinh địa hóa ảnh hưởng đến hàm lượng 12 hòa tan cũng như quá trình dịch chuyển của As trong TCN qh cho thấy: Hàm lượng As hòa tan thay đổi theo không gian, khoảng trên 1.300µg/L trong NDĐ đến 600µg/L ở nước lỗ rỗng chiết từ lớp sét sát bề mặt. NDĐ có hàm lượng As cao có môi trường khử với hàm lượng oxy hoà tan không đáng kể và hàm lượng Fe(II), NH4+, Carbon hữu cơ hòa tan rất cao. Ở môi trường gần bề mặt nhưng nằm dưới các vùng ngập nước lâu dài, các chỉ thị này càng dễ nhận thấy. Các tác giả cho rằng chính các Carbon hữu cơ không bền, lắng đọng cùng các sắt oxy hydroxit mang As, dưới điều kiện khử mạnh đã giải phóng As từ dạng rắn thành dạng hòa tan.
Tác giả cũng đưa ra giả thuyết As ở tầng gần bề mặt, nằm dưới các vùng đất ngập nước được giải phóng như vậy được coi là nguồn gây ô nhiễm As chính đối với các TCN phía dưới trong thời gian dài (100 đến 1.000 năm) ở vùng Nam và Đông Nam Á. Phân bố As trong NDĐ tại Bangladesh [54] Ashraf và nnk (2008) [81] đã nghiên cứu về sự giải phóng As từ khoáng vật biotit vào TCN qh ở Băngladesh. Kết quả chỉ ra rằng, ở độ sâu 18 - 29m trong TCN qh, nơi các lỗ khoan nông được người dân sử dụng để khai thác nước phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu thì As tồn tại chủ yếu trong pha biotit. Mặc dù, quá trình khử hòa tan các sắt oxy hydroxit được cho là nguyên nhân chính gây nên hàm lượng As cao 13 trong NDĐ, tuy nhiên các tác giả đã kết luận rằng quá trình phong hóa hóa học khoáng vật biotit là cơ chế nền tảng ban đầu và các điều kiện khử tiếp theo đóng góp vào việc giải phóng As làm tăng cao hàm lượng As trong NDĐ.
Yilong Zhang và nnk (2013) [98] nghiên cứu mối quan hệ giữa hàm lượng As trong NDĐ và gradient thủy lực dọc theo hướng dòng chảy NDĐ TCN nằm nông ở đồng bằng Hetao, Bắc Trung Quốc. Điều kiện thủy động lực được chia theo 4 nhóm từ Bắc tới Nam. Phương trình hàm mũ được xây dựng thể hiện cho mối tương quan giữa hàm lượng As và gradient thủy lực ở vùng được bổ cập từ nước mưa. Các kết quả cho thấy gradient thủy lực thấp trong điều kiện tự nhiên là điều kiện quan trọng làm tăng hàm lượng As trong NDĐ.
Qi Guo và nnk (2014) [45] nghiên cứu về sự khác biệt giữa điều kiện thủy địa hóa giữa NDĐ có hàm lượng As cao và NDĐ có hàm lượng As thấp trong TCN qh đồng bằng Yinchuan, Trung Quốc. Mục đích của công trình này là đánh giá mối liên quan giữa phân bố As trong NDĐ và các quá trình địa hóa làm di chuyển As ở 3 khu vực: Khu vực phân bố của nón phóng vật, khu vực canh tác khô hạn, và khu vực trồng lúa. Kết quả cho thấy ở khu vực phân bố nón phóng vật, hàm lượng As trong NDĐ thấp. Tuy nhiên, ở 2 khu vực còn lại hàm lượng As lại cao và liên quan chặt chẽ với điều kiện môi trường khử.
Ở khu vực canh tác lúa, nước tưới tiêu đóng vai trò là nguồn bổ cập cho NDĐ dẫn đến thế oxy hóa khử của NDĐ ở vùng này cao hơn so với vùng canh tác khô hạn. Các đồng vị bền 18O và 2H cho thấy bốc hơi do nước tưới đóng vai trò không đáng kể trong việc tăng cao hàm lượng As. Mối tương quan giữa hàm lượng As và sắt trong NDĐ cho thấy As có nguồn gốc chủ yếu từ quá trình khử hòa tan các sắt oxy hydroxit. Bên cạnh đó, phốt pho hòa tan có thể đóng vai trò là chất cạnh tranh với As.
Nhận xét chung: Như vậy các nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào nghiên cứu phân bố của ô nhiễm As trong NDĐ của các TCN, làm sáng tỏ cơ chế giải phóng As vào NDĐ của TCN bên trên. Các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra hàm lượng As cao chủ yếu được phát hiện tại TCN trầm tích aluvi trẻ bên trên và cơ chế giải phóng 14 chính là khử hoà tan sắt oxy hydroxit có hấp phụ As vào NDĐ dưới ảnh hưởng của quá trình phân giải vật chất hữu cơ hoạt động trầm tích đồng thời với thành tạo TCN. Nhóm nghiên cứu con đường dịch chuyển As và khả năng tổn thương của TCN bên dưới trước ô nhiễm As Holly A. Michael và Cliffor I.
Voss (2008) [61] đã nghiên cứu đánh giá về tính bền vững của NDĐ trong TCN nằm sâu cho mục đích cung cấp nước với hàm lượng As thấp tại đồng bằng Bengal. Trong nghiên cứu này, TCN nằm sâu hơn 150m đã được đánh giá chi tiết bằng việc sử dụng mô hình số cho toàn đồng bằng Bengal. Nghiên cứu cũng chỉ ra việc khai thác nước tại TCN bên dưới với mối quan hệ thuỷ lực với TCN nằm bên trên sẽ kéo theo quá trình di chuyển As hoà tan trong NDĐ từ TCN bên trên và phá huỷ TCN này. Kết quả của mô hình số cho thấy quá trình khai thác NDĐ quy mô nhỏ ở hộ gia đình ở TCN bên dưới không ảnh hưởng nhiều đến hệ thống dòng chảy ngầm tại đây.
Đồng thời với quá trình khai thác tại TCN bên trên phục vụ cho nông nghiệp cũng góp phần bảo vệ TCN bên dưới khỏi các tác động của quá trình dịch chuyển As. Các phân tích từ mô hình số còn chỉ ra việc khai thác được kiểm soát chặt chẽ có thể giúp cung cấp nguồn nước an toàn cho >90% nhu cầu trong hơn 1. Michael và Cliffor I. Voss (2009) [62] đã nghiên cứu đánh giá về các đặc tính dòng chảy ngầm trên quy mô khu vực tại đồng bằng Bengal, Ấn Độ và Bangladesh.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá các chiến lược quản lý trong dài hạn đối với cung cấp nước sinh hoạt an toàn không có As cho đồng bằng Bengal. Tại đồng bằng này, các trầm tích có mức độ bất đồng nhất cao với các tập thấu kính thấm nước yếu cục bộ chia tách các TCN.