Chương 1 : Cơ bản hệ thống GSM. Chương 2 : Chuyển giao trong mạng di động không dây. Chương 3: Thuật toán chuyển giao cứng với cơ sở bộ định thời hiệu quả cao trong mạng tổ ong. CƠ BẢN HỆ THỐNG GSM 1.
Vài nét về hệ thống tổ ong [1]. Lý thuyết dung lượng hệ thống và tái sử dụng tần số 1.1 Dung lượng hệ thống tế bào Ta cần phân biệt giữa hai phép đo dung lượng: dung lượng sector và dung lượng hệ thống. Dung lượng hệ thống được định nghĩa là số Erlang mà hệ thống có thể mang được trên mỗi đơn vị diện tích với một lượng phổ tần cho trước [Erlang/(MHz x km2)]. Với một giao diện vô tuyến cho trước, dung lượng có thể đạt được là một hàm số theo năng lực của lớp vật lý, sự hiệu quả của lớp điều khiển truy nhập phương tiện (MAC) và kỹ thuật đa truy nhập.
Hơn nữa, nó còn phụ thuộc nhiều vào lượng phổ vô tuyến có sẵn để quy hoạch mạng. Do đó, để đạt được dung lượng cao trong hệ thống thì cần các cell nhỏ (khoảng cách giữa các trạm ngắn) cũng như cần các cell có dung lượng sector cao. Dung lượng sector được định nghĩa là số Erlangs/sector mà một hệ thống có thể chịu được, trong một lượng phổ xác định [Erlang/(MHz*sector)]. Tất nhiên, ở đây phải tính đến các yếu tố như chất lượng cho phép và cấp độ phục vụ GoS.
Nếu ta định nghĩa: Bs: phổ tần vô tuyến được cấp phát cho hệ thống. Bc: phổ tần bị chiếm bởi một sóng mang vô tuyến đơn lẻ. Nc: số kênh trên một sóng mang đơn lẻ (trong hệ thống TDMA, Nc là số TS/khung). Cs: kích thước cụm cho phép để đảm bảo chất lượng tốt cho hầu hết các cuộc gọi tích cực (90 - 95%).
Thì ta có: Số kênh/cell = (Bs/ Bc) x (Nc / Cs). Từ công thức trên, dựa vào tỉ lệ nghẽn cuộc gọi GoS đã biết, ta có thể tính được dung lượng sector (Erlang) theo công thức Erlang B, sau khi đã tính đến các kênh điều khiển. Chú ý, yêu cầu về chất lượng có thể hạn chế mức độ sử dụng của kênh. Do đó, z 11 số lượng kênh nhiều không có nghĩa trực tiếp là hệ thống dung lượng cao, bởi vì hệ thống không thể tận dụng tối đa đồng thời tất cả các kênh (sẽ gây nhiễu cao…).
Như vậy, ta thấy rõ ràng, các tiêu chuẩn tế bào được thiết kế cho tái sử dụng rất chặt không hoàn toàn có nghĩa là dung lượng sector cao hơn sector có tái sử dụng tốt hơn, các tham số độ rộng sóng mang và số người sử dụng trên mỗi sóng mang là quan trọng như nhau, đều ảnh hưởng trực tiếp đến dung lượng hệ thống GSM.2 Tái sử dụng tần số và khoảng cách tái sử dụng tần số Số lượng tài nguyên tần số hay kênh trong một mạng vô tuyến là hạn chế và tái sử dụng tần số là một phương pháp được sử dụng để tăng độ sử dụng tài nguyên. Theo định nghĩa, tái sử dụng tần số là sử dụng các kênh vô tuyến có cùng tần số sóng mang để phủ sóng cho các vùng địa lý khác nhau. Các vùng này phải cách nhau ở cự li đủ lớn để hạn chế nhiễu giao thoa đồng kênh ở mức có thể chấp nhận được, tức là C/I trong các cell đồng kênh (cùng tần số) phải lớn hơn một giá trị ngưỡng nhất định. Một nhóm cell có thể sử dụng đồng thời các kênh giống nhau mà vẫn đảm bảo C/I tối thiểu yêu cầu thì được gọi là một nhóm tái sử dụng (reuse set).
Trong giai đoạn đầu của quá trình quy hoạch tần số, ta phải sắp xếp thích hợp các tần số vô tuyến vào một mảng mẫu sao cho các mảng mẫu dùng lại tần số mà không bị nhiễu quá mức. Nếu toàn bộ N kênh cấp phát cho hệ thống được chia làm K nhóm thì mỗi nhóm sẽ chứa N/K kênh. Do tổng số kênh N là cố định nên K nhỏ sẽ dẫn đến mỗi nhóm (hay mỗi trạm) sẽ có nhiều kênh hơn. Vì vậy, việc giảm số lượng các nhóm tần số sẽ cho phép mỗi trạm tăng lưu lượng, nhờ đó sẽ giảm số lượng các đài trạm cần thiết với tải Lưu lượng định trước.
Tuy nhiên, việc giảm lượng nhóm tần số sẽ làm giảm cự li đồng kênh, dẫn đến phân bố C/I bị giảm. Để đảm bảo có thể lặp lại các mẫu tái sử dụng liên tục thì K phải thoả mãn điều kiện: K = i2 + ij + j2 với i, j là các số nguyên không âm, i > j.1: Mẫu tái sử dụng tần số K=3 và K=4. Khoảng cách tái sử dụng tần số là cự ly nhỏ nhất giữa 2 cell cùng sử dụng các tần số giống nhau. Dễ thấy, với một kích thước cell nhất định, khoảng cách tái sử dụng tần số D phụ thuộc vào số nhóm tần số K.
Nếu K càng lớn, khoảng cách tái sử dụng tần số càng lớn và ngược lại, tuân theo công thức: D R 3.K Trong đó R là bán kính cell và K là số nhóm tần số, cũng là số cell trong một mảng mẫu (vì mỗi mảng mẫu gồm các cell dùng các nhóm tần số khác nhau - tức là không có tái sử dụng tần số trong một mảng mẫu).1 Các loại mẫu tái sử dụng tần số Đối với những vùng địa lý cần phủ sóng toàn bộ diện tích thì ta thực hiện phủ sóng diện rộng bằng cách lặp đi lặp lại các mẫu tái sử dụng kế tiếp nhau. Việc dùng các mảng mẫu kích cỡ nhỏ đảm bảo mức tái sử dụng tần số cao, cho dung lượng cao nhưng C/I thấp. Có 3 kiểu mẫu tái sử dụng tần số điển hình là 7/21, 4/12 và 3/9, thường được dùng cho các trạm gốc có các anten phát 3 hướng, mỗi hướng dành cho một ô và góc phương vị phân cách nhau 1200. Ở đây ta biểu diễn mỗi cell là một hình lục giác bán kính R.
Mẫu tái sử dụng tần số 3/9: Với mẫu này, toàn bộ N kênh tần số cấp cho hệ thống được chia thành 9 nhóm tần số, gán cho 3 site, mỗi site gồm 3 cell sector (K=9). Khoảng cách tái sử dụng tần số là D R 3. Tuy nhiên, theo phân bố tần số cho mẫu tái sử dụng tần số z 13 này thì vẫn tồn tại các cell cạnh nhau hoạt động ở các kênh tần kế cận, làm cho mức nhiễu kênh kế cận C/A cao. Khi đó để giảm thiểu hiệu ứng này, ta phải dùng thêm các biện pháp kỹ thuật khác như nhảy tần, điều khiển công suất động, truyền dẫn gián đoạn.
Mẫu tái sử dụng tần số 4/12: Mẫu tái sử dụng tần số 4/12 có nghĩa là các tần số sử dụng được chia thành 12 nhóm tần số gán trong 4 site, mỗi site gồm 3 cell sector (K=12). Khoảng cách tái sử dụng tần số là D R 3. Như vậy, mẫu này cho dung lượng thấp hơn mẫu 3/9 vì số lượng sóng mang trong một cell ít hơn (mỗi cell có N/12 sóng mang thay vì N/ 9) và các hệ số sử dụng lại là thấp hơn (khoảng cách tái sử dụng lớn hơn). Mẫu tái sử dụng tần số 7/21: Mẫu này có nghĩa là các tần số sử dụng được chia thành 21 nhóm tần số gán cho 7 site, mỗi site có 3 cell sector (K=21).
Khoảng cách tái sử dụng tần số là D R 3. Như vậy, khi số nhóm tần số giảm K = 21, 12, 9 - nghĩa là tăng số tần số có thể gán cho một trạm - thì khoảng cách tái sử dụng tần số D sẽ giảm 7,9R, 6R, 5,2R. Điều này đồng nghĩa với việc nhiễu trong hệ thống cũng sẽ tăng lên. Bù lại, khi K giảm, do số kênh trong mỗi cell tăng lên nên số thuê bao được phục vụ cũng tăng theo.
Như vậy, việc lựa chọn mẫu tái sử dụng tần số phải dựa trên các đặc điểm địa lý vùng phủ sóng, mật độ thuê bao của vùng phủ và tổng số kênh N của mạng. Cơ sở về lưu lượng và hiệu suất hệ thống 1.1 Hiệu suất sử dụng kênh Để tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên vô tuyến hạn chế, trong hệ thống thông tin di động GSM áp dụng nguyên tắc kênh vô tuyến đường trục. Mỗi BTS chỉ có một số kênh vô tuyến cho nhiều người dùng chung. Tỷ lệ giữa số người dùng và số kênh chung càng cao thì hiệu quả sử dụng kênh càng cao.
Hiệu suất sử dụng kênh (trong một cell hay một mạng vô tuyến) cho ta biết tỷ lệ phần trăm kênh được sử dụng. Nó được tính theo công thức: Hiệu suất sử dụng kênh = A (1-GoS)/số lượng kênh trong cell. z 14 với A là lưu lượng yêu cầu, GoS là cấp độ phục vụ. Theo công thức trên ta thấy: GoS càng thấp thì hiệu suất sử dụng kênh càng cao.
Đồng thời, cell nào sử dụng nhiều kênh hơn (nhiều máy thu/phát hơn) thì cell đó có hiệu suất sử dụng kênh nhỏ hơn.2 Hiệu suất phổ tần: Hiệu quả phổ SE của một hệ thống tế bào được định nghĩa là lưu lượng truyền qua mỗi đơn vị diện tích trong băng tần đã có. Ac Ac SE = = Bs .Su [ Erl / MHz.Nc K: kích thước cụm cell tái sử dụng Bc: độ rộng băng tần kênh vô tuyến (MHz) Nc: số kênh vô tuyến được gán cho mỗi cell Như vậy, hiệu quả phổ tần phụ thuộc vào số kênh cần cho mỗi cell Nc và phụ thuộc vào kích thước cụm cell tái sử dụng K. Theo công thức trên, ta thấy SE giảm khi Nc tăng. Mặt khác, khi tăng Nc sẽ làm cho hiệu suất của người sử dụng tăng, do khoảng cách giữa các cell đồng kênh giảm (hiệu suất người sử dụng có thể đo bằng các phép đo như xác suất thiếu kênh hay tỉ số lỗi bit BER).
Do đó, nhà thiết kế mạng phải điều tiết để có thể đạt được cả hai mục tiêu đối lập nhau là hiệu suất hệ thống cao và sử dụng hiệu quả phổ vô tuyến. Các đặc tính hiệu suất của hệ thống bao gồm xác suất nghẽn, xác suất nghẽn chuyển giao, các cuộc gọi tới bị rớt và tổng lưu lượng truyền qua. Các tham số này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của hệ thống.3 Lưu lượng Trong hệ thống viễn thông, Lưu lượng là lượng tin tức được truyền qua các kênh thông tin, được đo bằng đơn vị Erlang. Lưu lượng cần thiết của một thuê bao được đánh giá theo công thức sau: z 15 Asub = n.
T/ t [Erl] Trong đó: Asub: lưu lượng của một thuê bao, đơn vị là Erl. n: số cuộc gọi trong thời gian đo T của một thuê bao. T: thời gian trung bình của một cuộc gọi.