mở đầu quá trình phát triển, trong đó tiên phong là hàng ô tô do tập đoàn VinGroup đầu tư với thương hiệu VinFast. Trước thời điểm này, nguồn ô tô phục vụ trong nước chủ yếu là nhập khẩu hoặc lắp ráp trong nước. Nước ta đã bắt đầu thực hiện liên doanh với các công ty nước ngoài từ những năm đầu của thập kỷ 90. Hiện tại đã có 14 liên doanh đã và đang hoạt động như: TOYOTA, MERCEDES-BENZ VMC, DEAWOO, MITSUBISHI, NISSAN, FORD…Tại đây, ô tô được lắp ráp trên dây chuyền hiện đại, được nghiên cứu và phát triển bới những kĩ sư hàng đầu.
Công nghệ lắp ráp ô tô ở nước ta cũng dần phát triển từ loại hình SKD sang CKD1, CKD2 và trong tương lai là lắp ráp IKD. Trong loại hình lắp ráp IKD nhiều chi tiết, các hệ thống tổng thành được thiết kế chế tạo trong nước là các hệ thông treo, khung, vỏ… Tuy các ô tô được lắp ráp trên dây chuyền công nghệ hiện đại, áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật. Song một thực tế là đường xá kém chất lượng ở Việt Nam đòi hỏi một thiết kế có tính thiết thực cao hơn, phục vụ tốt hơn trong điều kiện nội tại, các thiết kế phải đáp ứng được các yêu cầu về độ êm dịu chuyển động, tính tiện nghi, an toàn… Nguyên nhân chính của việc xe không đáp ứng được các yêu cầu trên là do xe chuyển động trên đường không bằng phẳng, bị kích thích liên tục bởi mấp mô mặt đường tạo nên dao động trên ô tô. Mặt khác, hầu hết các xe khách, xe bus đều đều có thiết kế xuất phát từ gầm xe tải, khi chuyển sang xe khách còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết như độ êm dịu chuyển động, phương án bố trí hệ thống truyền lực, phân bố tải trọng lên các cầu xe.
Do đó, một yêu cầu 1 lắp ráp theo đúng điều kiện địa hình thực tế nhằm đảm bảo được các yêu cầu đặt ra, tạo một tiền đề để thúc đẩy chất lượng của các thiết kế trên ô tô nói chung và trên xe buýt nói riêng. Xuất phát từ những phân tích, lập luận trên cùng với đó là những gợi ý từ GVHD Nguyễn Trung Hiếu, nhóm chúng em quyết định thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, chế tạo thiết bị đo dao động trên xe buýt”. Em xin chân thành cảm ơn thầy GVHD Nguyễn Trung Hiếu đã tận tình hỗ trợ nhóm chúng em trong suốt quá trình thực hiện đồ án, Ngoài những kiến thức được thầy bổ trở thêm trong quá trình làm việc, nhóm chúng em còn được học tập tác phong làm việc của một kĩ sư chuyên nghiệp. Qua đây, em xin chân thành cảm ơn va chúc thầy luôn mạnh khỏe, luôn sang suốt trong công việc cũng như cuộc sống, tiếp tục đạo tạo thêm nhiều thế hệ kĩ sư ô tô phụ vụ cho nền công nghiệp Việt Nam nói chung và nền công nghiệp ô tô nói riêng.
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lí do chọn đề tài Xe buýt là một phần thiết yếu của cuộc sống hàng ngày và đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu xã hội ở nhiều nước nói chung và đặc biệt là Việt Nam ta nói riêng. Một nước phát triển vươn tầm thế giới thì không thể thiếu được hệ thống xe buýt, quản lí, dịch vụ chuyên nghiệp. Xe buýt đã trở thành thói quen không thể thiếu trong đời sống của nhiều người dân, đặc biệt là cán bộ hưu trí và học sinh, sinh viên.
Ước tính trung bình mỗi ngày xe buýt vận hành trên 10.000 lượt xe, vận chuyển được trên 1 triệu lượt hành khách, hạn chế trên 700.000 lượt xe máy tham gia giao thông trên đường phố. Vì vậy có thể giảm thiểu đươc tình trạng ách tắc giao thông ở nước ta, giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông đáng tiếc xảy ra. Giảm thiểu được tình hình ô nhiễm môi trường đang ngày càng quá độ do sự tham gia của quá nhiều phương tiện giao thông. Có thể nói xe buýt là một phương tiện công cộng không thể thiếu trên bất cứ quốc gia nào.
Đứng trước nhu cầu quá lớn về xe buýt như hiện nay thì vấn đề an toàn và ổn định của những chiếc xe buýt phục vụ người dân hàng ngày phải được đảm bảo. Những vấn đề đó đã nhắc nhở những người có trách nhiệm phải luôn luôn đặt nặng lên vai mình vấn đề nghiên cứu để có thể nêu ra những vấn đề trong những chiếc xe buýt hiện hành và đặc biệt là dựa trên những vấn đề đó có thể đề xuất ra những phương án để khắc phục vấn đề một cách tối ưu nhất mà vẫn phù hợp với nền kinh tế của nước nhà. Với mục đích nâng cao chất lượng cũng như trãi nghiêm của hành khách khi sử dụng xe buýt, đồng thời hỗ trợ các kĩ sư trong ngành CNKT ô tô cải thiện và nâng cao chất lượng hệ thống treo trên xe buýt, qua tìm hiểu cũng như được sự hướng dẫn của GVHD Nguyễn Trung Hiếu, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu thiết bị đo dao động trên ô tô buýt” là đề tài nghiên cứu của mình trong nhiệm vụ hoàn thành đồ án tốt nghiệp. Xu hướng phát triển ô tô khách ở Viêt Nam 1.
Đặc điểm và sự phát triển mạng lưới giao thông ở Việt Nam Theo báo cáo Điều chỉnh quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 [1], hiện trạng về mạng lưới giao thông đường bộ của Việt Nam được thống kế trong bảng sau: 3 Bảng 1. 1 Hệ thống đường bộ Việt Nam STT Loại đường Chiều dài(km) Tỷ lệ(%) 1 Quốc lộ, cao tốc 18.492 3,29 6 Đường chuyên dùng 6.434 2,49 Nguồn: Luận án tiến sĩ – Trương Mạnh Hùng Mạng lưới đường bộ Việt Nam tính đến tháng 02/2014 có khoảng 300.000 km đường các loại, được chia thành: quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã và đường chuyên dùng. Hệ thống quốc lộ có chiều dài khoảng 19.457 km và gần 5000 cầu đường bộ. Đường có tiêu chuẩn kĩ thuật cao và trung bình (cấp I, cấp II, cấp III) chiếm 47%, còn lại 53% là đường cấp thấp (cấp IV chiếm 32%, cấp V chiếm 21%).
Tỷ lệ đường có chiều rộng nền, mặt đường theo đúng cấp kỹ thuật còn thấp, chủ yếu có yếu tố hình học về bán kính cong; chiều rộng mặt đường ≥ 7m có khoảng 46%, mặt đường 5÷6.9m khoảng 33%, khoảng 21% còn lại là mặt đường có bề rộng dưới 5m. Theo quy hoach đến năm 2020, Việt Nam sẽ xây dựng khoảng 20 đường cao tốc với chiều dài gần 5.900 km, vốn đầu tư trên 50 tỷ USD. Trong thời gian vừa qua, hàng loạt các dự án đường cao tốc lớn đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như tuyến: Cầu Giẽ - Ninh Bình, Hà Nội - Hải Phòng, Nội Bài – Lào Cai ở các tỉnh phía Bắc, TP.Hồ Chí Minh – Trung Lương… Các tuyến đường bộ cao tốc được sắp xếp ưu tiên đầu tư dựa trên nguyên tắc là các tuyến có hiệu quả kinh tế cao (nhu cầu vận tải lớn); các tuyến nằm gần các trung tâm kinh tế - xã hội như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang , Cần Thơ… Các tuyến đường có khả năng “kích cầu”, tạo đà cho sự phát triển kinh tế xã hội, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, các tuyến đường thuộc hai hành lang và một vành đai kinh tế Việt – Trung. Sự phát triển của mạng lưới giao thông như hiện đã tạo điều kiện to lớn cho sự phát triển của phương tiện giao thông đường bộ, đặc biệt là phương tiện vận tải ô tô khách nội 4 tỉnh cũng như ô tô khách đường dài, là cơ hội thuận lợi cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước phát triển [2].
Hiện trạng phát triển ô tô khách ở Việt Nam Ngày nay khi mạng lưới giao thông đường bộ phát triển mạnh, thuận lợi cho việc phát huy thế mạnh của ngành vận chuyển hành khách bằng phương tiện vận tải ô tô. Ở Việt Nam, những năm gần đây đã xây dựng và đưa vào sử dụng một số tuyến đường chất lượng cao, đường cao tốc nối liền các tỉnh và thành phố, đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ vận chuyển hành khách bằng phương tiện vận tải ô tô nội tỉnh và liên tỉnh. Ngành công nghiệp ô tô ngày càng phát triển, các công nghệ mới ra đời được ứng dụng tạo ra các loại ô tô có tính tiện nghi cao, an toàn hơn, đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng. Ngày 15/2/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 356 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, trong đó sẽ kiểm soát sự phát triển của xe máy, ô tô cá nhân.
Đến năm 2020, theo định hướng phát triển phương tiện vận tải gồm ô tô các loại sẽ có khoảng 3,2 – 3,5 triệu xe, trong đó xe con 57%, xe khách 14% và xe tải 29%. Tỷ lệ đảm nhận vận tải hành khách công cộng trong những năm qua chỉ đạt 10 – 12% (mục tiêu chiến lược là 25 – 30% vào năm 2020). Cần nhanh chống phát triển phương thức vân tải nhanh, phục vụ khối lượng lớn tại các đô thị lớn (trước tiên là Thủ Đô Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh); phát triển vận tải ở các đô thị theo hướng vận tải công cộng là chính, đảm bảo hiện đại, an toàn, tiện lợi; phát triển hệ thống giao thông tĩnh; kiểm soát sự gia tăng phương tiện cá nhân; giải quyết ùn tắc giao thông và đảm bảo trật tự an toàn giao thông đô thị. Tổng khối lượng vận chuyển hành khách toàn quốc khoảng 6.240 triệu hành khách.
Xu hướng phát triển ô tô khách hiện nay chủ yếu tập trung công nghệ vào các ô tô có số chỗ ngồi lớn, phục vụ cho các mục đích sau: ô tô chạy trên cung đường dài, chạy liên tỉnh, ô tô phục vụ ngành du lịch. Các công nghệ mới ra đời được áp dụng cho hệ thống điều khiển như hệ thống lái, hệ thống treo. Trên các ô tô khách, ô tô buýt đã thay thế dần phần tử đàn hồi kim loại bằng lò xo, khí nén. Hệ thống treo khí nén có nhiều ưu việt, đem lại tính tiện nghi, nâng cao tính êm dịu chuyển động cho các ô tô.
Hệ thống này thích nghi tốt với việc thay đổi tải trọng tác động lên khung xe bằng việc thay đổi áp suất trong hệ thống, giảm các xung lực tác động lên thân xe khi ô tô đi trên các loại đường có nhiều mấp 5 mô.