Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CẢM BIẾN SINH HỌC 1. Cảm biến sinh học 1. Cấu tạo, nguyên lý làm việc của cảm biến sinh học Cấu tạo của cảm biến sinh học: Cảm biến sinh học là một thiết bị tích hợp độc lập, nhỏ gọn, có khả năng cung cấp những thông tin phân tích định lượng hoặc bán định lượng, gồm 02 thành phần chính: Phần tử nhận biết sinh học và bộ chuyển đổi tín hiệu [15].
Phần tử nhận biết thực chất là các lượng chất sinh học hoặc các thực thể sinh học, hoạt động như một yếu tố nhận biết, được liên kết với bộ chuyển đổi một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Phần tử sinh học được sử dụng chủ yếu là enzim, ADN, ARN, kháng thể [21]. Bộ chuyển đổi thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi các tín hiệu không điện do các phản ứng hoá học sinh ra thành tín hiệu điện, quang, cơ, nhiệt [21]. Cấu tạo của cảm biến sinh học Nguyên lý làm việc của cảm biến sinh học: Sự tương tác giữa phần tử cảm nhận sinh học và đối tượng phân tích sẽ làm thay đổi các tính chất sinh, hóa.
Sự thay đổi này được nhận biết bằng bộ chuyển đổi của cảm biến và chuyển thành tín hiệu điện [3]. Mỗi phần tử nhận biết sinh học khác Vũ Quang Khuê, ITIMS 2007-2009 -4- nhau chỉ cho phép nhận biết được một loại đối tượng phân tích theo nguyên tắc khóa - chìa. Nếu không có đối tượng phân tích phù hợp với thành phần cảm nhận sinh học thì không có sự thay đổi tín hiệu điện ở đầu ra của cảm biến hoặc chỉ đơn thuần là đóng góp các ồn trong quá trình đo. Chính vì vậy mà cảm biến sinh học có độ chọn lọc rất cao [17].
Phân loại cảm biến sinh học Dựa trên những thành phần cảm nhận sinh học và phần tử chuyển đổi người ta phân loại ra loại các cảm biến sinh học khác nhau: Phân loại theo phần tử chuyển đổi: Dựa trên bộ phận chuyển đổi có thể chia cảm biến sinh học thành: Cảm biến quang trên cơ sở phép đo huỳnh quang [6], cảm biến cơ dựa trên cơ sở thay đổi khối lượng ở bề mặt cảm biến sẽ làm thay đổi tần số trong vi cân của tinh thể thạch anh [16], chuyển đổi điện hóa [21], hiệu ứng trường nhạy ion, bộ chuyển đổi nhiệt và bộ chuyển đổi từ [2]. Cảm biến ADN quang học dựa trên cộng hưởng Plasma bề mặt: Loại cảm biến này không đòi hỏi phải đánh dấu chuỗi ADN, kết quả của phép đo được hiển thị ngay trong quá trình đo [17]. Hệ thống này dựa trên sự thay đổi góc cộng hưởng của ánh sáng phản xạ ở bề mặt cảm biến, khi có sự lai hóa của chuỗi ADN dò và ADN đích trong dung dịch. Sự thay đổi phần tử cảm nhận sinh học do lai hóa ADN sẽ tương ứng với sự thay đổi khối lượng phân tử trên bề mặt cảm biến.
Loại cảm biến này được sử dụng trong việc xác định đột biến gen [4], nghiên cứu tương tác kháng thể - kháng nguyên trong lúa mì [7], phân tích trong quá trình bào chế thuốc [9]. Cảm biến có bộ chuyển đổi cơ học trên cơ sở vi cân tinh thể thạch anh: Vũ Quang Khuê, ITIMS 2007-2009 -5- Cảm biến vi cân tinh thể thạch anh được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó việc sử dụng vật liệu này làm bộ chuyển đổi tín hiệu trong cảm biến sinh học nhằm ứng dụng trong lĩnh vực y, sinh học để xác định các loại vi rút, vi khuẩn gây bệnh. Ưu điểm của loại cảm biến này là có độ nhạy rất cao, khả năng đo sự thay đổi khối lượng ở mức nanogam, quá trình xác định không cần đánh dấu, kết quả có thể định tính hoặc định lượng. Nhược điểm của loại cảm biến này là hoạt động ở tần số cao, đóng góp ồn của môi trường làm ảnh hưởng tới quá trình xử lý tín hiệu [5].
Cảm biến sinh học dựa trên bộ chuyển đổi điện hoá: Cảm biến sinh học dựa trên bộ chuyển đổi điện hoá có cấu trúc đơn giản, quá trình nhận biết không phức tạp do những phản ứng điện hoá sẽ cho tín hiệu điện trực tiếp, độ nhạy tương đối cao, thời gian đáp ứng nhanh, kích thước nhỏ, thích hợp cho việc xác định nhanh các mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân nhiễm bệnh [11], hoặc ứng dụng để kiểm tra môi trường. Để nhận biết sự phản ứng của phần tử sinh học với chất cần phân tích, bề mặt cảm biến phải được cố định kháng thể, enzim, chuỗi ADN dò, sau đó đưa vào dung dịch mẫu cần phân tích tương ứng như kháng nguyên, cơ chất, ADN đích. Khi có phản ứng kháng nguyên - kháng thể, lai hóa ADN, phản ứng ức chế enzim, xẩy ra sẽ làm thay đổi độ dẫn giữa các điện cực, gây lên thay đổi điện áp ở đầu ra [21]. Cảm biến sinh học dựa trên bóng bán dẫn nhạy ion hiệu ứng trường ISFET (Ion Sensitive Field Effect Transistor): Bóng bán dẫn nhạy ion hiệu ứng trường là một loại điện cực được sử dụng để thay thế các điện cực thuỷ tinh đo pH hoặc nồng độ ion trong kim loại.
Loại linh kiện này được cải tiến từ MOSFET (Metal Oxide Semiconductor Field Effect Transistor) với sự thay thế của lớp oxít cực cổng bằng một lớp màng nhạy hoá học Vũ Quang Khuê, ITIMS 2007-2009 -6- và một điện cực chuẩn. Nếu phủ một lớp màng cảm nhận sinh học lên cực cổng của ISFET, nó trở thành cảm biến sinh học. Các loại cảm biến này được phủ bởi màng enzim lên cực cổng nhạy ion của ISFET, sự đáp ứng tín hiệu ra được xác định bằng sự thay đổi điện áp trong kênh dẫn. Loại cảm biến này có kích thước nhỏ, độ nhạy cao [2].
Phép đo dòng Hiển thị Keithley4200 1. Hộp tấm chắn 2. Cảm biến ISFET 3. Hệ đo cảm biến Hình 1.
Cấu tạo của cảm biến (A) và hệ đo (B) ISFET Cảm biến sinh học trên cơ sở vi điện cực độ dẫn: Cảm biến vi điện cực độ dẫn đã được sử dụng phổ biến với những ưu điểm vượt trội như: giá thành thấp, cấu trúc đơn giản, độ ổn định cao, tin cậy khi làm việc, phân tích nhanh và dễ dàng trên cơ sở phép đo độ dẫn, quy trình chế tạo đơn giản. Đây là loại cảm biến dựa trên sự thay đổi độ dẫn điện ở lân cận bề mặt cảm biến Vũ Quang Khuê, ITIMS 2007-2009 -7- khi có sự thay đổi về tính chất vật lý, hóa học hoặc sinh học trong dung dịch phân tích. Khi đó, sẽ làm thay đổi tín hiệu điện ở đầu ra của cảm biến. Cảm biến vi điện cực có nhiều cấu hình, kích thước khác nhau.
Chúng có thể được chế tạo bằng cách sử dụng dây kim loại hoặc các bon làm điện cực trong một ống thuỷ tinh. Hiện nay vi điện cực được ứng dụng dùng làm cảm biến sinh học là những vi điện cực có dạng hình tròn và đặc biệt là các vi điện cực Planar có cấu trúc dạng răng lược đan xen hoặc cấu trúc mảng [21]. Quy trình chế tạo loại cảm biến này được tác giả trình bày chi tiết trong chương 2 của luận văn. 5mm 5mm Hình 1.
Cấu tạo của cảm biến vi điện cực Cũng như các loại cảm biến sinh học khác, để xác định kháng nguyên, trên bề mặt cảm biến miễn dịch dựa trên vi điện cực độ dẫn cần được cố định kháng thể. Quá trình xảy ra phản ứng kháng nguyên - kháng thể (phản ứng miễn dịch) sẽ gây lên sự thay đổi độ dẫn trên bề mặt cảm biến và làm thay đổi tín hiệu điện ở đầu ra của cảm biến. Những loại cảm biến này thường được ứng dụng để xác định loại khuẩn Salmonella - một loại khuẩn gây nhiễm độc trong sữa với thời gian nhanh gấp nhiều lần so với các phương pháp xác định khác [8], xác định vi rút viên gam C [16], xác định vi rút gây bệnh H5N1 [21]. Vũ Quang Khuê, ITIMS 2007-2009 -8- Phân loại theo thành phần cảm nhận sinh học: Thực tế có khá nhiều phần tử sinh học được sử dụng làm thành phần cảm nhận sinh học.
Tuy nhiên các chất thường được sử dụng trong các công trình và sản phẩm là: ADN, ARN, kháng thể, enzim. Phần tử cảm nhận là chuỗi ADN: Cấu trúc, tính chất của các ADN được trình bày chi tiết trong [21]. Có nhiều phương pháp để cố định ADN lên bề mặt cảm biến nhưng phương pháp cố định ADN dò lên bề mặt cảm biến sử dụng APTS và ống nanocacbon là được sử dụng phổ biến và có nhiều ưu điểm [21]. Quy trình cố định ban đầu cảm biến được xử lý sạch bề mặt để tẩy bỏ chất bẩn và ion kim loại gây lên khi chế tạo và đóng gói cảm biến, tiếp đó hydrát hoá bề mặt cảm biến bằng CH3 OH/HCl tỷ lệ 1:1, Phủ APTS và cố định ADN dò lên bề mặt cảm biến dung dịch APTS/C2H5OH tỷ lệ 3:7 cùng với đó là quá trình hoạt hóa chuỗi ADN bằng EDC và MIA, phủ ADN hoạt hóa lên bề mặt cảm biến và đem ủ ở 37 0C trong 18 giờ [19].
Khi trong mẫu cần xác định có ADN đích sẽ có sự lai hóa ADN dò và ADN đích làm cho mật độ điện tích trên bề mặt cảm biến tăng lên khi đó độ dẫn của điện cực làm việc sẽ tăng hơn so với điện cực chuẩn. Đây là cơ sở để nhận biết quá trình làm việc của cảm biến ADN. Phần tử cảm nhận là enzim: Đối với cảm biến cố định bằng màng enzim thường được ứng dụng trong quan trắc môi trường và công nghệ thực phẩm. Trước khi cố định, bề mặt cảm biến được làm sạch bằng dung dịch K2Cr2O7 trong H2SO4 98% sau đó cho enzim lên bề mặt vi điện cực của cảm biến.
Chức năng hóa bề mặt cảm biến để xác định nồng độ thuốc trừ sâu trong nước, điện cực cố định enzim được phủ 1mg AcChE (Acetyl- Cholinesterase) và 1mg BSA (Bovine Serum Albumin) trộn với dung dịch đệm KH2PO4 20 mM, pH = 7,5 và 10% Glycerol. Điện cực chuẩn được phủ hỗn hợp Vũ Quang Khuê, ITIMS 2007-2009 -9- 2mg BSA với 10 µl chất đệm KH2 PO4 20 mM, pH = 7,5 với 10% Glycerol. Khi có nồng độ thuốc trừ sâu - carbonsulfan C20H32N2O3S trong nước làm cho Acetyl- cholinesrase phân tách thành acetic và choline khi đó proton sinh ra là nguyên nhân làm thay đổi độ dẫn, lúc này độ dẫn trên màng enzim của điện cực làm việc giảm so với điện cực chuẩn và tạo sự chênh lệnh tín hiệu điện trên đầu ra của cảm biến [23]. Phần tử cảm nhận là kháng thể: Kháng thể bản chất là một loại glycoprotein do kháng nguyên kích thích tạo ra và có thể kết hợp một cách đặc hiệu với kháng nguyên ấy.