Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LÃNH VỰC ĐỀ TÀI 1.1 Ngoài nước Vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX đã xuất hiện một cuộc cách mạng về công nghệ micro. Cuộc cách mạng này đã mang đến cho các ngành công nghiệp một cơ hội phát triển mới có tính chất toàn diện. Trong giai đoạn phát triển này đã có rất nhiều loại vật liệu được phát hiện và nghiên cứu hướng tới ứng dụng trong công nghiệp. Một trong số đó chính là vật liệu tinh thể thạch anh ứng dụng chế tạo linh kiện vi cân tinh thể, có tên tiếng anh là Quartz Crystal Microbalance (QCM).
Linh kiện QCM này được sử dụng rộng rãi như một thiết bị có khả năng xác định được sự thay đổi về khối lượng cỡ picogram/cm2 thông qua sự thay đổi tần số cộng hưởng của tinh thể thạch anh [2]. Đặc biệt, linh kiện này có thể hoạt động được trong môi trường chất lỏng và khí [3, 4]. Do vậy, nó đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống. Một trong những linh vực đang được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất hiện nay chính là khả năng ứng dụng làm cảm biến sinh học nhằm phát hiện các virus, bệnh hiểm nghèo trong thời gian ngắn với độ nhạy và độ chính xác cao hơn so với một số thiết bị cảm biến đang được sử dụng rộng rãi [2].
Ngô Võ Kế Thành 4 TS. Dương Minh Tâm Báo cáo cuối kỳ ICDREC - SHTP Hình 1. Cấu trúc hình học và mode dao động trượt của QCM [2].1 trình bày cấu trúc hình học và các mode dao động của linh kiện QCM Linh kiện QCM bao gồm một phiến tinh thể thạch anh loại AT- hoặc BT-cut với hai điện cực kim loại trên hai bề mặt của phiến. Khi điện cực này tiếp xúc với bộ dao động hoặc được đặt điện áp xoay chiều thì tinh thể thạch anh sẽ sinh ra biến dạng trượt theo bề dày tinh thể.
Kết quả của biến dạng là tạo ra sóng âm TSM (Thickness Shear Mode) theo bề dày tinh thể. Dao động của tinh thể sẽ cộng hưởng khi bề dày tinh thể bằng bội số lẻ lần nửa bước sóng âm. Tại tần số này, tồn tại một sóng dừng dọc theo bề dày tinh thể [5, 6] (hình 1. Thông thường thì dao động này rất ổn định và phụ thuộc nhiều vào hệ số phẩm chất Q của linh kiện.
Mặt khác các nghiên cứu cũng cho thấy rằng với loại tinh thể thạch anh dạng AT-cut thể hiện tính chất áp điện rõ rệt nhất và mạnh nhất so với các loại khác, đặc biệt nó có tính ổn định nhiệt cao khi hoạt động. Do vậy, loại phiến AT-cut thường được sử dụng trong bộ điều khiển tần số và chế tạo cảm biến [6]. Ngô Võ Kế Thành 5 TS. Dương Minh Tâm Báo cáo cuối kỳ ICDREC - SHTP Điện cực trên Phiến AT Sự dịch chuyển Điện cực dưới Hình 1.
Mode sóng cơ bản của QCM [5].1) 2 N Vq vq fN N (1.2) 2d Trong đó: N được gọi là bậc của mode dao động, d : chiều dày tinh thể (µm), : bước sóng (m), q= 3320m/s: vận tốc sóng âm trong tinh thể thạch anh loại AT- cut. Tần số f 0 ứng với N=1 gọi là tần số đặc trưng của sóng âm, được xem là tần số bậc mode cơ bản của tinh thể: vq f0 (1.3) 2d Năm 1959, Sauerbrey đã phát hiện ra mối liên hệ giữa sự dịch chuyển tần số dao động của tinh thể Quartz với sự thay đổi khối lượng trên một đơn vị diện tích bể mặt của nó. Công trình trở thành nền tảng trong việc chế tạo và sử dụng linh kiện QCM như một vi cân. Mối liên hệ giữa độ dịch tần số của linh kiện với sự thay đổi khối lượng trên bề mặt điện cực được trình bày theo phương trình Sauerbrey [7]: 2.
Ngô Võ Kế Thành 6 TS. Dương Minh Tâm Báo cáo cuối kỳ ICDREC - SHTP Trong đó, Δf là độ dịch tần số, f0 tần số cộng hưởng cơ bản của tinh thể; Δm sự thay đổi khối lượng trên một đơn vị diện tích của linh kiện (g/cm2); A là diện tích làm việc của linh kiện; khối lượng riêng của tinh thể Quartz ρp=2,648g/cm3; và modun biến dạng của tinh thể Quartz µp = 2,947. Tuy nhiên, phương trình Sauerbrey không áp dụng được cho một số trường hợp trong đó khối lượng thêm vào (1) không lắng đọng cố định trên bề mặt điện cực; (2) trượt trên bề mặt của điện cực hoặc (3) không lắng đọng đồng đều trên bề mặt điện cực. Vì vậy phương trình Sauerbrey không áp dụng được cho trường hợp trong đó sự hấp thụ của khối lượng trên bề mặt điện cực không tạo ra một lớp bám dính cố định, đồng đều và mỏng trên bề mặt điện cực của linh kiện QCM.
Do vậy, phương trình Sauerbrey chủ yếu áp dụng trong trường hợp linh kiện sử dụng để phát hiện và đo đạc sự thay đổi khối lượng ở trạng thái khí. Hay nói cách khác nó được ứng dụng chế tạo các cảm biến nhạy khí. Tuy nhiên, cho đến năm 1980 các nhà khoa học phát hiện ra rằng tần số dao động của linh kiện đặc biệt ổn định khi linh kiện được nhúng hoàn toàn vào trong dung dịch. Nhóm tiên phong trong việc nghiên cứu hoạt động của linh kiện này trong môi trường dung dịch là nhóm của giáo sư Kanazawa.
Nhóm nghiên cứu này chỉ ra rằng sự thay đổi tần số cộng hưởng của linh kiện QCM trong trường hợp này tỷ lệ căn bậc hai của khối lượng riêng và độ nhớt của dung dịch [8]: L L f f u3 / 2 (1.( q q ) Trong đó, Δf là độ dịch tần số, fu tần số cộng hưởng của tinh thể trong chế độ không tải; ρL là khối lượng riêng của dung dịch; ηL hệ số nhớt của dung dịch; khối lượng riêng của tinh thể Quartz ρp=2,648g/cm3; và modun biến dạng của tinh thể Quartz µ p = 2,947. Đây chính là cơ sở cho các ứng dụng của QCM trong việc xác định mật độ cũng như độ nhớt của môi trường. Mô hình và công nghệ chế tạo cảm biến sinh học đầu tiên được hai nhà khoa học Clark và Lyons đưa ra vào năm 1962. Mô hình của cảm biến sinh học này bao gồm điện cực oxy hóa trên đó cố định thành phần sinh học enzyme glucose.
Khi mật độ ThS. Ngô Võ Kế Thành 7 TS. Dương Minh Tâm Báo cáo cuối kỳ ICDREC - SHTP glucose trong môi trường phản ứng giảm thì mật độ chất oxy hóa trên bề mặt điện cực cũng giảm một cách tương ứng. Sự thay đổi này cho phép xác định chính xác nồng độ glucose trong môi trường cần kiểm tra.
Năm 1975 công ty Yellow Springs Instrument (Ohio) lần đầu tiên biến ý tưởng của Clark thành hiện thực thông qua việc thương mại hóa các cảm biến sinh học. Sản phẩm đầu tiên là thiết bị phân tích glucose dựa trên hydrogen peroxide và đó cũng là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của các cảm biến sinh học trong đời sống [10]. Cũng chính vì sự xuất hiện cũng như ưu điểm của loại cảm biến này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong nhiều ngành nghiên cứu như vật lý, hóa học, hóa sinh, sinh học phân tử và khoa học vật liệu. Do vậy công nghệ chế tạo cảm biến sinh học phát triển mạnh mẽ với độ ổn định và tính tin cậy cao.
Hơn nữa phạm vi ứng dụng của các cảm biến này ngày càng đa dạng và phong phú. Theo đánh giá điều tra hàng năm của tổ chức quốc tế thì số tiền chi cho việc nghiên cứu và phát triển cảm biến sinh học đạt 300 triệu USD[9]. Từ năm 1984 đến năm 1990 đã có khoảng 3000 báo cáo khoa học và khoảng 200 bằng sáng chế trong lĩnh vực ứng dụng cảm biến sinh học. Từ năm 1991 đến năm 1997, số lượng báo cáo khoa học cũng tương tự như trong giai đoạn từ năm 1984 đến 1990 (khoảng 3300 báo cáo khoa học).
Tuy nhiên số lượng bằng sáng chế tăng lên đến con số 400. Đặc biệt hơn nữa, từ năm 1998 đến năm 2008, số lượng báo cáo khoa học và bằng sáng chế tăng lên đến con số kỷ lục: hơn 10,000 bài báo và gần 2000 bằng sáng chế[10]. Điều này cho thấy khả năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai của các hoạt động nghiên cứu và chế tạo cảm biến sinh học ứng dụng trong tất cả lĩnh vực của đời sống và khoa học sản xuất của loài người. Như chúng ta đã biết, cảm biến sinh học là thiết bị sử dụng các tác nhân sinh học như enzyme, các kháng thể…để phát hiện, đo đạc hoặc phân tích hóa chất thông qua các phản ứng sinh-hóa có độ tin cậy chính xác 100%.
Do vậy, có thể nói độ chính xác cũng như độ nhạy của cảm biến sinh học phụ thuộc mạnh mẽ vào quá trình chuyển đổi từ tín hiệu sinh học sang tín hiệu có thể cân đo được. Bộ phận có tác dụng chuyển đổi ThS. Ngô Võ Kế Thành 8 TS. Dương Minh Tâm Báo cáo cuối kỳ ICDREC - SHTP này được gọi là Transducer, đây là bộ phận quan trọng nhất của cảm biến.
Cho đến nay đã có rất nhiều công nghệ được nghiên cứu, hoàn thiện và đưa vào ứng dụng chế tạo cảm biến. Trong số đó chuyển đổi bằng tinh thể áp điện là một trong những công nghệ mới thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cũng như các hãng sản xuất [10]. Nguyên lý hoạt động cơ bản của chuyển đổi này chính là dựa vào sự suy giảm tần số cộng hưởng của tinh thể áp điện dao động kiểu mode trượt bề dày khi có sự gia tăng khối lượng của màng lắng đọng trên bề mặt tinh thể. Do vậy transducer của cảm biến sinh học áp dụng dạng chuyển đổi này được xem như linh kiện vi cân tinh thể (Quartz Crystal Microbalance-QCM).
Cảm biến sinh học trên cơ sở linh kiện QCM (cảm biến QCM) tính đến thời điểm này còn khá mới mẻ. Nó mới chỉ được manh nha nghiên cứu từ năm 1997 và phát triển mạnh vào khoảng từ những năm 2004-2008. Cảm biến QCM có ưu điểm là độ nhạy cao (cỡ picogram), thời gian phản ứng nhanh (có thể coi là real-time), khả năng cơ động cao và đặc biệt hơn nữa là nó có thể hoạt động cả trong môi trường lỏng và môi trường khí. Vi cân tinh thể thạch anh QCM và hệ đo QCM200[9].