CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. PHƯƠNG PHÁP ELECTROSPINNING 1. Giới thiệu Electrospinning là một kỹ thuật kéo sợi từ polymer dung dịch hoặc polymer nóng chảy bằng cách sử dụng lực tĩnh điện (điện trường). Sợi Electrospun có đường kính rất nhỏ (từ nanomet đến micromet) so với quá trình kéo sợi thông thường ( kéo sợi nóng chảy, kéo sợi dung dịch, …).
Cơ sở lý thuyết của phương pháp Electrospinning 1. Nguyên tắc tạo sợi: Khi đặt điện áp cao vào giữa đầu phun và bảng thu sợi (được nối đất) sẽ làm xuất hiện một điện trường lớn. Dòng điện I tạo ra rất nhỏ làm đầu phun bị nhiễm điện. Do đó dung dịch polymer khi đi qua đầu phun này cũng sẽ bị nhiễm điện và các hạt mang điện được gia tốc bởi điện trường, phun ra dung dịch polymer chuyển động theo chiều của điện trường tạo thành ở trên.
Kết quả là dung dịch polymer được tăng tốc đập vào bảng thu sợi và hình thành một sợi mỏng với bán kính từ micromet đến nanomet[1], khi sợi di chuyển trong khoảng không giữa các điện cực, dung môi bốc hơi một phần và polymer hóa rắn ở dạng sợi, các sợi này sắp xếp trên bề mặt điện cực thành lớp. Có ít nhất hai yếu tố quan trọng trong phương pháp Electrospinning của các dung dịch polymer: Yếu tố thứ nhất: dung môi bay hơi làm bán kính của sợi thu được trên bảng điện cực nhỏ hơn bán kính của sợi ban đầu. Yếu tố thứ hai: “tính phi Newton” của dung dịch. Các đặc tính quan trọng trong phương pháp Electrospinning Dung môi phải thích hợp để có thể hòa tan được polymer.
3 Áp suất hơi của dung môi phải thích hợp để bay hơi nhanh giúp cho sợi giữ nguyên được bản chất nhưng đồng thời cũng không bay hơi quá nhanh để sợi không bị cứng lại trước khi đạt kích thước nano. Độ nhớt và sức căng bề mặt của dung môi cũng không quá lớn ngăn cản hình thành tia polymer nhưng cũng không quá nhỏ để cho dung dịch polymer chảy ra hết khỏi đầu phun. Việc cung cấp năng lượng (điện trường) cần được đầy đủ để đạt được độ nhớt và sức căng bề mặt của dung dịch polymer một cách tốt nhất giúp cho việc hình thành và duy trì tia polymer từ đầu phun. Khoảng cách giữa đầu phun và bản cực không nên quá nhỏ tạo tia lửa điện giữa hai điện cực và phải đủ lớn để cho dung môi bay hơi hết trong quá trình sợi hình thành để tránh trường hợp sợi bị bết lại trên bảng cực.
Thiết bị Electrospinning 1. Cấu tạo hệ thống Electrospinning Cấu tạo gồm ba phần: Máy biến áp (high voltage supply): điện áp tối đa 24kV, máy biến áp dùng để tạo điện trường E lớn giữa đầu kim và bảng điện cực nhận. Bảng điện cực nhận (collector): là nơi sợi sau khi phun sẽ bám vào. Hệ thống phun dung dịch bao gồm thiết bị truyền lực (syringe), đầu kim (needle), máy bơm vi lượng (pump).
Sơ đồ thiết bị Electrospining 4 1. Nguyên tắc hoạt động Hệ thống phun cung cấp dung dịch polymer tạo thành giọt polymer trên đầu kim tiêm, điện trường E tạo lực đẩy Coulomb lên các phân tử trong giọt polymer, lực đẩy này cùng hướng với điện trường, khi lực đẩy Coulumb lớn hơn sức căng bề mặt của giọt polymer thì các phân tử trên bề mặt giọt sẽ bị đẩy ra và hướng về phía bảng phân cực và tạo thành sợi. Các yếu tố ảnh hưởng đến sợi thu được từ phương pháp Electrospinning Theo các nghiên cứu về phương pháp Electrospinning, đường kính sợi chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố chính sau: Tính chất của dung dịch polymer và hệ dung môi : nồng độ, độ dẫn điện, sức căng bề mặt, độ bay hơi,. Điều kiện thực hiện phương pháp Electrospinning: điện áp đặt vào, tốc độ phun, khoảng cách đầu phun và đĩa cực nhận.
Yếu tố khách quan: nhiệt độ, độ ẩm tương đối,… Hình 1. Hình ảnh biểu thị các yếu tố chính đến kích thước sợi Electrospun 5 1.Ảnh hưởng của tính chất dung dịch polymer và hệ dung môi a. Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch polymer Khi tăng nồng độ polymer thì đường kính sợi d (nm) tăng.[2] Nồng độ của dung dịch polymer có liên hệ với độ nhớt. Khi nồng độ của dung dịch tăng thì độ nhớt cũng tăng theo và ngược lại.
Khi độ nhớt thay đổi thì đường kính sợi sẽ thay đổi. Độ nhớt tối thiểu cần thiết tương ứng với một số giá trị của C > C* trong dung dịch và thay đổi theo trọng lượng phân tử của polymer cũng như tính chất của các dung môi được sử dụng. Việc điều chỉnh độ nhớt có thể thay đổi bằng cách thay đổi nồng độ polymer hoặc thay đổi thành phần dung môi ở nồng độ không đổi. Ví dụ: độ nhớt của dung dịch 13% trọng lượng Polystyrene (PS) có thể được thay đổi từ 42 cPs đến 48 cPs bằng cách chỉ thay đổi thành phần của hệ dung môi 2 thành phần [3].Các polymer liên hợp Poly(p-phenylene vinylene) trong dung môi Etanol/DMF, độ nhớt cao hơn khi hòa tan trong dung môi chỉ có Etanol ở nồng độ tương tự.
Dung dịch với nồng độ chất rắn cao không chỉ cản trở quá trình hình thành sợi (tạo sự bất ổn định của tia polymer hoặc có thể gây tắc nghẽn đầu kim) mà còn làm cho sợi nano dày hơn, ngoài ra còn làm cho dung dịch polymer khó bơm do có độ nhớt cao [4]. Quá trình kéo sợi từ các dung dịch như vậy có thể không đồng đều và có thể tạo một điện tích tương đối nhỏ trên đĩa cực nhận (collector) [2,3]. Ví dụ: Các logarit của đường kính sợi nano tăng theo nồng độ của Polyacrylonitrile (PAN) trong dung môi Dimethylformamide (DMF). Sự phụ thuộc của sợi có đường kính trung bình (µm) vào nồng độ mẫu Poly(methyl methacrylate) (PMMA) trong dung môi Dimethylformamide (DMF).
Mối quan hệ giữa đường kính sợi vào nồng độ với các giá trị khác nhau của điện trường. Ảnh hưởng của dung môi Trong phương pháp Electrospinning, dung môi đóng vai trò vô cùng quan trọng. Việc chọn lựa dung môi cho phương pháp phải thỏa mãn các yếu tố sau: Dung môi sử dụng phải thích hợp để có thể hòa tan được polymer. Áp suất hơi của dung môi phải thích hợp để bay hơi nhanh giúp cho sợi giữ nguyên được bản chất nhưng cũng không bay hơi quá nhanh để sợi không bị cứng lại trước khi đạt được kích thước nano.
Độ nhớt và sức căng bề mặt của dung môi không quá lớn để ngăn không cho tia polymer định hình nhưng cũng không quá nhỏ để dung dịch polymer chảy ra hết khỏi đầu phun. Bốn đặc tính quan trọng của các dung môi ảnh hưởng đến đặc tính dung dịch trong Electrospinning: độ dẫn điện, sức căng bề mặt, tính chất điện môi, tính dễ bay hơi. Những dung môi phổ biến dùng trong phương pháp Electrospinning. Hằng số Η Dung môi ρ(g/cm3) TC γ(mN/m)b điện môi (mPa.s) Acetone 0,79 56 20,7 23,46 0,324 CHCl3 1,438 62 4,81 26,67 0,568 THF 0,889 66 7,6 23,97 0,468 Cyclohexane 0,779 81 2,02 24,65 0,979 Nước 0,998 100 78,5 71,99 1 Toluene 0,867 11 2,38 27,93 0,59 DMF 0,944 153 36,7 - 0,92 Acid Formic 1,213 101 58,5 37,7 1,8 Ethanol 0,785 78 24,6 22 1,1 8 c.
Ảnh hưởng của điện dẫn xuất Khi độ dẫn điện của dung môi cao thì sợi nano sẽ có đường kính trung bình nhỏ hơn. Dung môi có độ dẫn điện thấp có thể sẽ không thực hiện được phương pháp Electrospinning. Tuy nhiên trong quá trình hòa tan một polymer trong dung môi, độ dẫn điện của dung dịch thường tăng do sự xuất hiện của các ion lạ, chủ yếu là từ các tạp chất hoặc các chất phụ gia có sẵn trong polymer. Nồng độ polymer trong dung dịch tăng, độ dẫn điện vẫn có thể giảm nếu trong polymer có ít tạp chất [6], tuy nhiên cũng có trường hợp polymer tự xúc tác quá trình ion hóa như với Polyelectrolytes, dung môi sẽ dẫn điện cao hơn nhiều và phụ thuộc vào nồng độ [7].
Dung môi dẫn điện bởi loại ion ngẫu nhiên trong dung dịch có thể không đủ để electrospun thành sợi mịn liên tục. Trong trường hợp này một số phụ gia có thể được thêm vào dung dịch để tăng tính đẫn điện. Ngoài ra có thể thêm vào muối vô cơ như NaCl.5: Sự thay đổi đường kính trung bình sợi nano PLGA copolymer (LA:GA là 50: 50) dung môi CHCl3 (nồng độ dung dịch 15wt%) khi bổ sung thêm Clorua Benzyl Ammonium Triethyl (BTEAC). Ảnh hưởng của sức căng bề mặt Sức căng bề mặt là lực chính chống lại lực đẩy Coulomb trong phương pháp Electrospinning.
Các phụ gia với nồng độ thấp có thể được sử dụng để làm thay đổi sức căng bề mặt của các dung dịch polymer, khi sử dụng ở nồng độ rất thấp, sức căng bề mặt của dung dịch được giảm đáng kể. Để quá trình phun sợi được dễ dàng, có thể thêm vào dung dịch polymer các hoạt chất làm giảm sức căng bề mặt của hệ dung dịch. Ví dụ: Pha dung dịch 8 wt.% PVA: cho 0,8 g bột PVA vào 9,2 g nước sau đó đem hỗn hợp này đun nóng đến 80-90C và liên tục khuấy. Sau khi hỗn hợp tan hoàn toàn, nhỏ 0,5 wt.% Nonylphenol Ethoxylated (Triton X-100) vào dung dịch và tiếp tục khuấy hỗn hợp thêm 15-20 phút.
Mục đích của việc thêm chất hoạt động bề mặt Triton X-100 là để giảm sức căng bề mặt giúp sợi polymer dễ phun hơn. (a) Ảnh hưởng của thành phần dung môi vào sức căng bề mặt của dung dịch PVC. Ảnh hưởng của việc thêm 5% (theo trọng lượng của polymer) chất hoạt động bề mặt lên hình thái sợi Electrospun của dung dịch PLLA dung môi CHCl3/Acetone (2:1): (a) không có chất hoạt động bề mặt; (b) có chất hoạt động bề mặt. Ảnh hưởng của hằng số điện môi Trong cùng một điều kiện về polymer và nồng độ, hằng số điện môi tăng sẽ giúp làm giảm đường kính sợi.
Mối quan hệ giữa đường kính trung bình các sợi và các hằng số điện môi của dung môi của các sợi nano PEO electrospun. Tất cả các dung dịch thu được ở nồng độ tương ứng với [] c 10.2: Thông số đường kính sợi khi electrospinning nhựa PMMA (100mg/ml) trong các dung môi có ε khác nhau [12] D (trung bình) Dung môi E Hình thái nm Toluene 2,38 - Không kéo sợi CHCl3 4,81 - Chuỗi giọt+sợi nhỏ CHCl3/DMF - 620 Sợi có nhiều cườm THF 7,52 2490 Sợi có nhiều cườm THF/DMF(1:1) - 770 Sợi DMF 38,2 530 Sợi đẹp Acid formid 51,1 280 Sợi đẹp e. Ảnh hưởng của độ bay hơi dung môi Độ bay hơi ảnh hưởng đến quá trình khô của sợi và hình thái sản phẩm. Với dung môi bay hơi chậm, khi đến collector, các sợi vẫn còn ướt dẫn đến kết dính thành lưới không dệt trên collector.