Chương 1 – TỔNG QUAN VỀ QUẶNG APATIT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT AXIT PHOTPHORIC 1. Giới thiệu về quặng apatit Lào Cai Phần lớn axit photphoric hiện nay được sản xuất đi từ quặng photphat. Quặng photphat được chia làm 3 kiểu chính: trầm tích, macma và guano. Quặng Apatit Lào Cai có nguồn gốc trầm tích biển, thành hệ tiền Cambri chịu các tác dụng biến chất và phong hoá.
Các khoáng vật photphat trong đá trầm tích không nằm ở dạng vô định như ta tưởng trước đây mà nằm ở dạng ẩn tinh, phần lớn chúng biến đổi giữa floroapatit Ca 5(PO4) 6F2 và cacbonat-floroapatit Ca5([PO4],[CO3])3F. Hầu hết các phosphat trầm tích dưới dạng cacbonat-floroapatit gọi là francolit. Dưới tác dụng của biến chất các đá phi quặng biến thà nh đá phiến, dolomit và quaczit, còn đá chứa photphat chuyển thành quặng apatit - dolomit. Quặng apatit có công thức hóa học rút gọn là Ca5X(PO4)3 với X: F, Cl, OH, CO3 … thường gặp là Ca 5F(PO4)3.
Trong thực tế, một phần canxi được thay thế bằng các kim loại khác: Ba, Mg, Mn, Fe, Sr… Trong thành phần của apatit có nhiều nguyên tố vi lượng: Sr, Mg, Fe, Al… Quặng apatit tự nhiên ở dạng kết tinh, khó phân hủy, không tan trong nước và có tính chất kiềm yếu. Quặng apatit hòa tan trong các axit vô cơ, nhiệt độ nóng chảy từ 1550 ÷ 1570o C.1: Cấu trúc tinh thể của quặng apatit Lào Cai 10 1. Quặng apatit Lào Cai Hình 1.2: Hình ảnh mẫu thạch học apatit Lào Cai Ở Việt Nam duy nhất có mỏ apatit nguồn gốc trầm tích - biến chất Lào Cai. Mỏ phân bố dọc bờ phải sông Hồng, từ biên giới Việt Trung ở phía Tây Bắc thuộc tỉnh Lào Cai đến vùng Làng Lếch tỉnh Yên Bái phía Đông Nam.
Được chia thành 3 phân vùng chính là: - Phân vùng Bát Xát – Ngòi Bo: Là trung tâm của khoáng sản apatit Lào Cai, có chiều dài 33,5 km. Là vùng có trữ lượng quặng lớn và ổn định nhất. - Phân vùng Ngòi Bo – Bảo Hà: Số liệu thăm dò địa chất chưa đầy đủ để xác định trữ lượng tài nguyên - Phân vùng Bát Xát – Lũng Pô: Chưa thực hiện thăm dò địa chất để xác định trữ lượng tài nguyên. Quặng apatit Lào Cai được phân ra làm 4 loại, trong đó quặng loại I và III là quặng phong hóa thứ sinh, được làm giàu tự nhiên, nên quặng mềm và xốp hơn quặng nguyên sinh.
Quặng loại II và IV là quặng apatit cacbonat nguyên sinh, nằm dưới đới phong hóa cần qua xử lý tuyển, làm giàu. Quặng loại IV có hàm lượng P2O 5 rất thấp nên khó làm giàu và được xem như là quặng nghèo, chưa sử dụng được. Do đó, quá trình khai thác và chế biến chủ yếu tập trung ở quặng giàu trước, Quặng loại I được khai thác và sử dụng luôn không qua chế biến. Quặng loại III được khai thác và tuyển nâng hàm lượng, còn quặng loại II, đang được khai thác 11 nhưng ít sử dụng.
Trữ lượng quặng tại khu trung tâm theo số liệu thăm dò địa chất (Số liệu thăm dò chưa đầy đủ) là khoảng 800 triệu tấn, bao gồm: - Quặng apatit loại I: 34 triệu tấn. - Quặng apatit loại II: 236 triệu tấn. - Quặng apatit loại III: 230 triệu tấn. - Quặng apatit loại IV: 291 triệu tấn.
Mỏ apatit Lào Cai được phát hiện từ năm 1924 và khai thác từ năm 1940. Sản lượng quặng apatit đã khai thác (Chủ yếu từ năm 1956 đến năm 2005) là: - Quặng apatit loại I: 14 triệu tấn. - Quặng apatit loại II: 3 triệu tấn. - Quặng apatit loại III: Khoảng 40 triệu tấn.
- Quặng apatit tuyển: 2,5 triệu tấn. Cho đến nay, việc sử dụng quặng II apatit đang là vấn đề khó khăn, cho cả Việt Nam và trên thế giới. Tuy có trữ lượng lớn, nhưng do loại quặng này có chứa thành phần magie oxit (MgO) dưới dạng khoáng vật dolomit, biotit, và cả apatit, làm cho sản phẩm phân bón không thể đông cứng được và làm giảm khả năng lọc trong quá trình sản xuất axit photphoric. Giới thiệu về axit photphoric 1.
Tính chất vật lí và hóa học. Axit photphoric là chất rắn tinh thể không màu, khối lượng riêng 1,87 g/cm3; nhiệt độ nóng chảy = 42,35 0C (dạng H3PO4.H2O có nhiệt độ nóng chảy = 29,320C); phân huỷ ở 213 0C.cm-3; tại nồng độ 75% về khối lượng thì ts = 133o C, d = 1,58g. Axit photphoric tan trong etanol, nước (với bất kì tỉ lệ nào). Trong cấu trúc tinh thể của nó gồm có những nhóm tứ diện PO 4, liên kết với nhau bằng liên kết 12 hidro.
Cấu trúc đó vẫn còn được giữ lại trong dung dịch đậm đặc của axit ở trong nước và làm cho dung dịch đó sánh giống như nước đường.3: Công thức cấu tạo của H 3PO 4 Axit photphoric được gọi là ortho vì nó có trạng thái hydroxyl hóa cao nhất. Axit orthophotphoric tan trong nước đó được giải thích bằng sự tạo thành liên kết hidro giữa những phân tử H 3PO4 và những phân tử H2O. Khi đun nóng dần, axit orthophotphoric mất bớt nước, biến thành axit điphotphoric (H 4P2O7 - ở 260oC), biến thành axit metaphotphoric (HPO 3 - ở 300 0C). 260 C o H 3 PO4 ⎯⎯⎯ → H 4P2O 7 + H 2O 300 C → 2HPO3 + H 2O o H 4 P2O7 ⎯⎯⎯ Axit photphoric là axit có độ mạnh trung bình, điện li không hoàn toàn trong nước.10-8 − ⎯⎯ H 2 PO4 ⎯ ⎯ HPO42− ⎯ → H + + PO 43− ⎯⎯ ⎯ K3 = 10-12 13 Axit photphoric là một axit trung bình nên nó mang đầy đủ tính chất của một axit thường.
Nó có thể phản ứng với dung dịch kiềm, kim loại đứng trước hidro, phản ứng với dung dịch muối của các axit yếu hơn. Vai trò của axit photphoric Axit photphoric được sử dụng phổ biến trong sản xuất phân bón hóa học. Cụ thể axit photphoric dùng để sản xuất supephotphat đơn và kép, phân lân tổng hợp, sản xuất phân DAP… Ngoài ra, axit photphoric còn được sử dụng trong sản xuất các chất tẩy rửa, chống mối mọt, làm các muối kim loại để bảo vệ kim loại, làm mềm nước cứng, tẩy gỉ, phốtphát hóa sắt thép, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dược. Sản xuất axit photphoric 1.
Sản xuất axit photphoric theo phương pháp nhiệt Quá trình bao gồm 2 giai đoạn chính: - Nung phối liệu gồm quặng photphat, đá thạch anh và than cốc (theo tỉ lệ nhất định) trong lò điện để thăng hoa photpho. - Sau khi đã lọc bụi, ngưng tụ hơi photpho, đốt photpho và hấp thụ tạo thành axit photphoric. Ưu điểm: phương pháp cho sản phẩm axit có độ sạch cao. Nhược điểm: Tốn nhiều nhiệt lượng và đòi hỏi quá trình lọc sạch.
Các phản ứng chính: 4Ca5 (PO 4 )3F + 18SiO 2 + 30C ⎯⎯ → 18CaSiO 3 + 3P4 + 30CO + 2CaF 2 o t 2Ca3 (PO 4 )2 + 3SiO2 + 10C ⎯⎯ → 6CaSiO3 + P4 + 10CO o t 2P + O2 ⎯⎯ o t → P2O 5 P2O5 + 3H 2O ⎯⎯ → 2H 3PO4 14 1. Sản xuất axit photphoric theo phương pháp trích ly Gồm 2 giai đoạn chính: - Giai đoạn 1: Phân hủy quặng photphat bằng axit (thường là axit H2SO4) tạo thành bùn gồm axit photphoric, canxisunphat và các tạp chất khác. - Giai đoạn 2: Lọc bùn, thu axit photphoric loãng, cô đặc axit đến nồng độ cần thiết. Ưu điểm: Tiêu tốn ít nhiệt lượng, quá trình phản ứng đơn giản.
Nhược điểm: Axit photphoric thành phẩm chứa nhiều tạp chất như: axit H2SO4: 1 ÷ 6,5%, HF: 0,4 ÷ 1,6%, tạp chất khác từ quặng photphat, từ axit H2SO4 và do ăn mòn thiết bị: 0,3 ÷ 4,3%. Tùy thuộc vào dạng CaSO4 tạo thành mà phương pháp trích ly được chia thành các dạng công nghệ sau: (1) Công nghệ dihydrat, axit photphoric thu được có nồng độ sản phẩm 27 ÷ 30% P 2O5. (2) Công nghệ hemihydrat, axit photphoric thu được có nồng độ sản phẩm 40 ÷ 48% P 2O5. (3) Công nghệ hemi – đihydrat, axit photphoric thu được có nồng độ sản phẩm 40 ÷ 50% P 2O5.
Thành phần quặng loại I được sử dụng ở nhà máy sản xuất DAP Đình Vũ, Hải Phòng được chỉ ra ở bảng sau: Bảng 1.1: Thành phần quặng đang được sử dụng ở nhà máy sản xuất DAP Đình Vũ – Hải Phòng Thành phần quặng Hàm lượng % P2 O 5 32-33 CaO 42-44 MgO 0,98-1,1 15 Tổng SiO 2 12-14 Fe2O 3 1,5-1,7 Al2O 3 2,5-3 F 2,6-2,7 Cl <100 ppm Na2O Khoảng 0,03 K2O Khoảng 0,35% SO3 0,11 CO2 0,8-1,0 H2O 15 Tỉ lệ CaO/P 2O5 1,27-1,37 1. Phương pháp đihydrat sản xuất axit photphoric. Phương pháp và quy trình sản xuất Axit photphoric sản xuất theo phương pháp ướt trong công nghiệp được thực hiện khi phân hủy quặng thường bằng axit sunfuric, hay với mức độ ít hơn bằng axit nitric hay axit clohydric. Khi phân hủy bằng axit sunfuric, tùy thuộc vào dạng thạch cao tạo thành người ta phân biệt phương pháp dihidrat hay hemi hidrat.
Quá trình dihydrat được sử dụng rộng rãi hơn do nó có thể áp dụng với nhiều dạng quặng phophat. Do vậy, dựa vào kết quả phân tích dạng khoáng có trong quặng và thành phần hóa học của quặng, khoáng apatit được phân giải bởi axit sunfuric ở nhiệt độ 70 – 800C theo phản ứng sau: Ca5(PO 4)F + 5H2SO4 + 2H2O → 5CaSO4 .2H2O + 3H3PO4 + HF (1) Ngoài phản ứng chính trên còn có một số phản ứng phụ diễn ra, quan trọng nhất là: CaCO3 + H 2SO4 + H2O → CaSO4.2H2O + CO2 (2) 16 MgCO 3 + H 2SO 4 + H2O → MgSO 4.2H2O + CO2 (3) SiO2 + 4HF → SiF4 + 2H2O SiF 4 + 2HF → H 2SiF 6 Sắt và nhôm đi vào dung dịch theo phản ứng sau: Fe 2O3 + 2H2SO4 → 2Fe3+ + 2SO43- + 3H2O Al 2O3 + 2H2SO4 → 2Fe3+ + 2SO43- + 3H2O Sơ đồ công nghệ dihydrat sản xuất axit photphoric về nguyên lí được minh họa ở hình 1. Quặng photphat và axit sunfuric qua bộ định lượng (a) được đưa vào bình phản ứng (d). Axit photphoric được đưa vào bình phản ứng (d) từ axit sau rửa ở bộ lọc rửa (c) và từ bùn thạch cao có trong axit photphoric sau lọc (e).
Hỗn hợp bùn sau phản ứng được chuyển vào bộ lọc rửa chân không (c). Sự rửa thường được tiến hành theo 3 bậc ngược dòng. Khí thoát ra từ bình phản ứng được rửa trực tiếp bằng nước ở bộ rửa (b). Nước sau rửa được chuyển đến phối liệu với bã thạch cao sau rửa tạo thành bùn thạch cao (f).
Bình phản ứng có khuấy chứa hỗn hợp phản ứng gồm quặng photphat, axit sunfuric và axit photphoric với tỉ lệ lỏng rắn là 2 – 4 hay nhiều hơn. Nồng độ P2O5 trong bình phản ứng là 16 %, hoặc có thể cao đến 20 – 22%.