Tổng quan nghiên cứu

Sông Lô giữ vai trò huyết mạch trong mạng lưới thủy văn đồng bằng và trung du Bắc Bộ khi hàng năm cung cấp khoảng 32,7 tỷ m3 nước, chiếm 26,4% tổng lượng dòng chảy của sông Hồng tính tại trạm thủy văn Sơn Tây. Đồng thời, đây là trục giao thông đường thủy trọng điểm kết nối giao thương giữa các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc với Thủ đô Hà Nội với chiều dài tuyến vận tải lên tới 116 km. Tuy nhiên, sau nhiều năm khai thác cùng sự biến đổi chế độ xả từ các hồ chứa thủy điện thượng nguồn, lòng dẫn đoạn sông Lô chảy qua huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã xuất hiện những diễn biến phức tạp. Vấn đề nổi cộm nhất là tình trạng bồi lắng các bãi cạn giữa dòng vào mùa khô, đặc biệt là đoạn cạn Lão Hoàng từ Km64 đến Km68+700, khiến độ sâu luồng chạy tàu hạ thấp chỉ còn 1,4 m đến 1,6 m, gây tê liệt tuyến giao thông thủy huyết mạch Việt Trì - Tuyên Quang và gây xói lở đe dọa các dải bờ sông.

Trước thực trạng cấp bách đó, đề tài tập trung nghiên cứu toàn diện chế độ thủy động lực, phân tích quy luật biến hình lòng dẫn và ứng dụng mô hình vật lý để đề xuất các giải pháp công trình chỉnh trị phù hợp. Phạm vi nghiên cứu bao quát 22 km sông Lô từ Km55 đến Km74 kết hợp 3 km vùng nhập lưu của sông Chảy tại ngã ba Đoan Hùng. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc đưa ra giải pháp nắn dòng và co hẹp lòng kiệt, đảm bảo độ sâu luồng tàu đạt chuẩn tắc kỹ thuật trên 2,5 m quanh năm, bảo vệ 100% các đoạn bờ sông xung yếu trước hiểm họa xói lở và duy trì năng lực tiêu thoát lũ an toàn tuyệt đối cho toàn bộ lưu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết động lực học dòng sông và quy luật vận chuyển bùn cát được phát triển bởi các nhà khoa học Breusers, Raudkivi, Engelund và Hansen. Hệ thống lý thuyết này phân tích mối quan hệ cân bằng giữa sức tải cát lý thuyết và lượng bùn cát thực tế trong lòng dẫn, chỉ rõ cơ chế lòng sông bị xói hạ thấp khi xuất hiện dòng chảy thiếu hụt trầm tích ở hạ lưu các công trình ngăn sông. Bên cạnh đó, lý thuyết thủy lực dòng chảy trên đoạn sông cong được áp dụng để giải thích sự phân bố không đối xứng của trường vận tốc, ứng suất tiếp đáy và sự hình thành các dòng chảy thứ cấp thúc đẩy quá trình bồi xói bờ sông.

Về phương pháp thực nghiệm, tác giả sử dụng lý thuyết tương tự thủy lực Froude cho dòng chảy mặt thoáng có áp dụng hệ số biến thái hình học, kết hợp với các tiêu chuẩn tương tự về sức cản thủy lực và tương tự dòng chảy rối với số Reynolds mô hình đạt 15.093. Ba khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm: trạng thái cân bằng động lực học bùn cát, vận tốc không xói tiếp đáy của hạt trầm tích và tuyến chỉnh trị luồng tàu mùa kiệt. Các nguyên lý này định hình cơ sở tính toán khoa học cho việc bố trí các công trình chỉnh trị lòng sông.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm chuỗi số liệu thủy văn nhiều năm trong giai đoạn 1960 - 1994 tại 4 trạm quan trắc Hàm Yên, Ghềnh Gà, Vụ Quang, Phù Ninh và tài liệu bình đồ địa hình chi tiết đo đạc trên 22 km dòng sông vào năm 2009. Cỡ mẫu khảo sát thực địa chuyên sâu gồm 6 mặt cắt thủy văn đại diện từ MC4 đến MC9 trên sông Lô và 1 mặt cắt tại cửa vào sông Chảy. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích tại các vị trí xung yếu, tập trung vào các đoạn sông uốn khúc có bán kính cong từ 350 m đến 1110 m, các bãi cạn chia dòng và khu vực hợp lưu sông Chảy. Dữ liệu dòng chảy thực tế được thu thập bằng máy đo vận tốc và lưu lượng âm học Doppler ADCP tần số 600 kHz của hãng RD Instruments, đạt độ chính xác cao với sai số lặp lại chỉ khoảng 2%.

Lý do lựa chọn phương pháp mô hình vật lý lòng cứng là do hình thái lòng dẫn khu vực Đoan Hùng mang tính chất phi tuyến 3 chiều hết sức phức tạp với hiện tượng dâng nước ngã ba sông và khúc quanh liên tiếp mà các mô hình toán số thông thường khó phản ánh toàn diện. Mô hình vật lý được gia công trong nhà có mái che tại Trung tâm Nghiên cứu Động lực Sông với tỷ lệ mặt bằng 1:250, tỷ lệ đứng 1:80, hệ số biến thái 3,125 và số Reynolds mô hình là 15.093, đảm bảo dòng chảy duy trì ổn định trong khu vực chảy rối nhám. Toàn bộ chu trình chế tạo, kiểm định mực nước và hiệu chỉnh trường vận tốc được hoàn thiện với lưu lượng kiểm nghiệm thực tế tại Vụ Quang là 1857 m3/s.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự phân hóa sâu sắc của chế độ dòng chảy theo mùa: lượng nước mùa lũ kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 chiếm tới 75% đến 77% tổng lượng dòng chảy cả năm với lưu lượng đỉnh lũ lịch sử tại Phù Ninh lên tới 15.200 m3/s; ngược lại, dòng chảy mùa kiệt từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau chỉ chiếm 20% đến 25% tổng lượng nước năm, lưu lượng kiệt nhất tại Ghềnh Gà xuống mức 102 m3/s. Biên độ chênh lệch lưu lượng giữa hai mùa lên tới hơn 140 lần tạo ra sự biến động thủy động lực vô cùng mạnh mẽ.

Thứ hai, tại đoạn cạn Lão Hoàng (Km64 - Km68+700), bề rộng mặt nước biến thiên đột ngột từ 430 m ở đoạn mở rộng xuống chỉ còn 240 m ở đoạn thắt hẹp. Sự thay đổi hình thái này đã bồi tích liên tiếp 4 bãi cạn lớn có chiều dài từ 100 m đến 300 m, làm chia cắt dòng kiệt thành nhiều lạch nông có độ sâu chỉ từ 1,4 m đến 1,6 m, không đáp ứng yêu cầu độ sâu tối thiểu 2,5 m cho tàu thuyền tải trọng lớn lưu thông.

Thứ ba, sự hình thành và vận hành của các hồ chứa thủy điện Tuyên Quang và Thác Bà ở thượng nguồn đã giữ lại phần lớn lượng bùn cát lơ lửng, tạo ra dòng nước thiếu hụt trầm tích ở hạ du. Kết hợp với hoạt động khai thác cát sỏi quá mức dọc sông, đáy sông bị xói sâu hạ thấp trung bình từ 0,4 m đến hơn 2,0 m, làm gia tăng nguy cơ sạt lở tại các bờ lõm như khu vực Km64+900 và làm hạ thấp mực nước lấy vào các trạm bơm nông nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn tới sự bồi lắng nghiêm trọng tại bãi cạn Lão Hoàng là do tác động tương hỗ tại ngã ba sông Lô và sông Chảy. Khi sông Chảy gia nhập một lượng nước lớn (khoảng 320 m3/s trong các đợt đo khảo sát), mực nước vùng hợp lưu dâng cao tạo hiệu ứng nước dâng truyền ngược lên phía thượng lưu Lão Hoàng. Hiện tượng này làm giảm cục bộ độ dốc thủy lực của dòng chảy sông Lô, khiến khả năng vận chuyển bùn cát suy giảm đột ngột và làm vật liệu đáy lắng đọng thành các bãi bồi giữa dòng.

Dữ liệu thực nghiệm được minh họa rõ nét qua các biểu đồ phân bố vận tốc tiếp đáy trên các mặt cắt ngang từ kịch bản hiện trạng đến các kịch bản công trình. Trên bảng đối chuẩn kết quả đo đạc giữa mô hình vật lý và số liệu thực địa tại lưu lượng trạm Vụ Quang 1857 m3/s, sai lệch vận tốc dòng chảy tiếp đáy và mực nước chỉ dao động dưới 5%, khẳng định độ tin cậy tuyệt đối của mô hình thí nghiệm. Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu biến hình lòng dẫn hạ du hồ Hòa Bình trên sông Đà và đập Tam Hiệp trên sông Dương Tử, chứng minh quy luật tất yếu của hiện tượng xói lở hạ du hồ chứa và bồi lắng cục bộ tại các vùng nước dâng ngã ba sông.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, xây dựng hệ thống kè mỏ hàn chỉnh trị gồm 6 mỏ hàn kết cấu đá đổ bọc rọ thép tại đoạn cạn Lão Hoàng (Km64 - Km68+700) nhằm thu hẹp mặt cắt ướt mùa cạn, tập trung dòng chủ lưu vào luồng chạy tàu thiết kế và nâng độ sâu đáy luồng từ 1,4 m lên trên 2,5 m; cơ quan thực hiện là Cục Đường thủy nội địa Việt Nam phối hợp Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2018.

Hai là, thi công công trình kè lát mái kết hợp thảm đá và vải địa kỹ thuật bảo vệ các đoạn bờ lõm đang bị sạt lở nghiêm trọng tại các xã Hữu Đô, Thọ Sơn và Chi Đám; hướng tới mục tiêu triệt tiêu 95% hiện tượng sạt trượt đất bãi sông; giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ chủ trì thực hiện từ năm 2015 đến 2017.

Ba là, thiết lập quy chế quản lý và kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác cát sỏi lòng sông trên đoạn 22 km qua huyện Đoan Hùng; hướng tới mục tiêu xóa bỏ 100% các điểm khai thác trái phép làm thay đổi chế độ thủy động lực; giao Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và tỉnh Tuyên Quang phối hợp kiểm tra, xử lý thường xuyên từ năm 2015.

Bốn là, lắp đặt hệ thống quan trắc tự động định kỳ 6 tháng một lần đối với mực nước, lưu lượng và diễn biến hình thái đáy sông bằng thiết bị đo ADCP hiện đại; hướng tới mục tiêu cung cấp dữ liệu cảnh báo bồi xói trước 48 giờ phục vụ an toàn chạy tàu; giao Trung tâm Nghiên cứu Động lực Sông triển khai thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước về giao thông thủy và nông nghiệp như Cục Đường thủy nội địa Việt Nam, Tổng cục Thủy lợi, Chi cục Thủy lợi các tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang; luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để lập quy hoạch luồng tàu, cấp phép nạo vét và phê duyệt các dự án bảo vệ đê kè phòng chống thiên tai.

Nhóm 2: Kỹ sư và các đơn vị tư vấn thiết kế công trình thủy; tài liệu là cẩm nang tính toán chi tiết về thông số kích thước, bố trí mặt bằng kè mỏ hàn, tính toán ổn định chân kè và kết cấu kè bảo vệ bờ sông uốn khúc.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Công trình thủy, Chỉnh trị sông và Kỹ thuật tài nguyên nước; công trình đóng vai trò tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp xây dựng, vận hành và kiểm định mô hình vật lý thủy lực lòng cứng tỷ lệ lớn.

Nhóm 4: Các doanh nghiệp vận tải đường thủy nội địa và khai thác khoáng sản; tài liệu giúp các đơn vị nắm vững đặc điểm luồng lạch theo mùa để bố trí phương tiện vận tải an toàn và thực hiện khai thác cát sỏi bền vững, tránh gây mất ổn định bờ sông.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính gây bồi lắng nghiêm trọng tại đoạn cạn Lão Hoàng vào mùa kiệt là gì? Hiện tượng bồi lắng xuất phát từ sự suy giảm mạnh của dòng chảy mùa khô (chỉ chiếm 20% đến 25% lượng nước cả năm) kết hợp với hiệu ứng dâng nước tại ngã ba sông Chảy có lưu lượng khoảng 320 m3/s. Mực nước ngã ba dâng cao làm giảm độ dốc thủy lực của dòng chính sông Lô, khiến bùn cát lắng đọng hình thành 4 bãi cạn dài tới 300 m.

Tại sao đề tài lại ưu tiên lựa chọn phương pháp mô hình vật lý lòng cứng thay vì mô hình toán? Đoạn sông nghiên cứu có hình thái phức tạp gồm nhiều khúc cong bán kính 350 m đến 1110 m và hợp lưu sông Chảy. Mô hình vật lý tỷ lệ 1:250 với số Reynolds 15.093 cho phép mô phỏng chính xác cấu trúc dòng chảy không gian 3 chiều, dòng xoáy thứ cấp và trường vận tốc tiếp đáy mà các mô hình số 1D hay 2D chưa thể hiện trọn vẹn.

Việc vận hành các hồ chứa thủy điện thượng nguồn ảnh hưởng như thế nào đến lòng dẫn sông Lô? Các hồ thủy điện Tuyên Quang và Thác Bà giữ lại phần lớn bùn cát tự nhiên, khiến dòng xả về hạ du trở thành dòng nước thiếu hụt trầm tích. Dòng nước này xói mòn lòng sông để tự cân bằng, làm hạ thấp đáy sông từ 0,4 m đến hơn 2,0 m, gây biến đổi mực nước và sạt lở mạnh bờ sông.

Hệ thống kè mỏ hàn được đề xuất hoạt động theo nguyên lý nào để cải thiện luồng tàu? Kè mỏ hàn làm nhiệm vụ co hẹp mặt cắt ướt vào mùa cạn và hướng dòng chảy xiết vào lạch sâu thiết kế. Vận tốc dòng nước gia tăng sẽ tự bào mòn các bãi bồi, duy trì độ sâu luồng chạy tàu đạt trên 2,5 m quanh năm mà vẫn đảm bảo thoát lũ an toàn trong mùa mưa.

Thiết bị đo dòng âm học ADCP đóng vai trò gì trong việc bảo đảm độ chính xác của nghiên cứu? Thiết bị ADCP tần số 600 kHz cho phép đo đạc đồng thời vận tốc, độ sâu và lưu lượng trên 6 mặt cắt thủy văn với độ chính xác cao, sai số lặp lại chỉ khoảng 2%. Dữ liệu đo đạc thực tế này là cơ sở trực tiếp để hiệu chỉnh và kiểm định độ tin cậy của mô hình vật lý.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện bức tranh thủy động lực và xác định chính xác các nguyên nhân gây mất ổn định lòng dẫn trên 22 km sông Lô qua Đoan Hùng.
  • Xây dựng và kiểm định thành công mô hình vật lý lòng cứng tỷ lệ biến thái 3,125 với độ chính xác cao so với số liệu thực địa.
  • Định lượng chi tiết sự phân bố trường vận tốc tiếp đáy và biến đổi mực nước qua các kịch bản chỉnh trị lòng sông.
  • Đề xuất giải pháp công trình tối ưu gồm hệ thống 6 kè mỏ hàn tại Lão Hoàng kết hợp kè bảo vệ bờ, nâng độ sâu luồng tàu đạt trên 2,5 m vào mùa cạn.
  • Cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ công tác quy hoạch giao thông thủy nội địa và an toàn đê điều vùng hạ lưu hồ chứa.

Đóng góp cốt lõi của nghiên cứu là đã kết hợp hiệu quả giữa công nghệ đo đạc hiện trường ADCP và phương pháp mô hình vật lý thực nghiệm để giải quyết triệt để điểm nghẽn giao thông thủy tại bãi cạn Lão Hoàng. Trong 12 đến 24 tháng tới, các cơ quan quản lý cần tiến hành lập dự án đầu tư và triển khai thi công hệ thống kè chỉnh trị theo phương án đã được kiểm chứng. Các cấp ban ngành và doanh nghiệp vận tải hãy tham khảo, áp dụng ngay giải pháp khoa học này nhằm bảo đảm an toàn giao thông đường thủy và phát triển kinh tế xã hội bền vững cho lưu vực sông Lô.