PHẦN MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển giao thông làm tiền đề để phát triển kinh tế đất nƣớc (nhất là giao thông đƣờng bộ) đang đƣợc Nhà nƣớc quan tâm. Mặc dù xây dựng đƣờng bê tông xi măng đắt hơn bê tông nhựa khá nhiều, nhƣng một số con đƣờng ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn đƣợc đầu tƣ bằng đƣờng bê tông xi măng nhất là các con đƣờng đi qua vùng đất yếu hay bị ngập lụt, triều cƣờng. Mặt khác, sự phát triển của ngành sản xuất xi măng ở Việt nam trong những năm gần đây cùng với việc khai thác hiệu quả của các con đƣờng bê tông xi măng đi qua vùng đất yếu là những cơ sở để xây dựng thêm các con đƣờng bê tông xi măng.
Làm đƣờng bê tông xi măng có lợi thế là mặt đƣờng có cƣờng độ cao, thích hợp với tất cả các phƣơng tiện vận tải, kể cả các loại xe bánh xích. Điểm đáng lƣu ý là đƣờng rất ổn định trƣớc sự “phá hoại” của nƣớc ở các khu vực chịu ảnh hƣởng của thủy triều hay lũ lụt. Mặt đƣờng ít hao mòn, tuổi thọ cao từ 20 - 30 năm (gấp 1,5 đến 2 lần) so với đƣờng thảm bê tông nhựa, chính vì vậy sẽ ít phải duy tu, bảo dƣỡng hơn. Ngoài ra, mặt đƣờng sử dụng xi măng có thể giúp tăng độ an toàn khi chạy xe vào ban đêm do mặt đƣờng màu sáng hơn bê tông nhựa.
Bên cạnh đó, làm đƣờng bằng bê tông xi măng cũng sẽ là một hình thức kích thích tiêu thụ sản lƣợng xi măng nội địa. Mặt đƣờng bê tông xi măng tuy giá thành cao, nhƣng lại ít phải bảo trì, bảo dƣỡng, nếu thực hiện phép tính cụ thể, thì về lâu dài, đƣờng bê tông xi măng sẽ có lãi hơn đƣờng nhựa rất nhiều. Hiện tại, công tác thi công xây dựng công trình nhƣ: đƣờng, cảng, đê…. để đảm bảo chất lƣợng thi công đòi hỏi phải đƣợc thực hiện bằng 7 HV: HUỲNH MINH VƢƠNG GVHD: NGUYỄN HỮU CHÍ máy thi công chuyên dùng hiện đại nhƣ: máy rải bê tông mặt sàn phẳng, máy rải bê tông mặt sàn nghiêng, máy rải bê tông ván khuôn trƣợt….Sử dụng máy rải bê tông cho phép nâng cao chất lƣợng bê tông, rút ngắn thời gian thi công, giảm giá ca máy dẫn đến giảm giá thành xây dựng.
Các thiết bị hiện đại chuyên dùng thi công đƣờng bê tông xi măng đã sử dụng nhiều ở các nƣớc Mỹ, Nhật, Châu âu; một số loại máy rải đã đƣợc nhập về Việt Nam với giá khá cao để thi công mặt đƣờng sân bay hoặc một số tuyến đƣờng ra vào cảng. Nhiều dự án đƣờng bê tông vẫn đƣợc thi công bằng phƣơng pháp thủ công, bán cơ giới dẫn đến chất lƣợng công trình không đảm bảo, tiến độ chậm. Chính vì những lý do trên, ở Việt Nam giá ca máy rải mặt đƣờng bê tông xi măng còn khá cao. Ở Việt Nam, máy rải bê tông đã bắt đầu đƣợc áp dụng cho một số công trình nhƣ sân bay, cảng và đƣờng giao thông.
Tuy nhiên, đa số các máy đều đƣợc nhập khẩu từ nƣớc ngoài nhƣ: Máy Commander III của hãng Gomaco. Máy SP500 của hãng Wirtgent. Máy VF 450 của Việt Nam. Máy nhập khẩu có giá thành cao, đƣợc chế tạo theo tiêu chuẩn và điều kiện làm việc ở nƣớc ngoài.
Trong khi thi công, máy rải luôn phải điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thi công ở công trình và điều kiện khí hậu. Nắm bắt đƣợc nhu cầu sử dụng Máy rải bê tông và khó khăn trên, nên đề tài: “Nghiên cứu chế độ làm việc hợp lý của máy rải bê tông xi 8 HV: HUỲNH MINH VƢƠNG GVHD: NGUYỄN HỮU CHÍ măng VF 450 tại thành phố Hồ Chí Minh” là rất cần thiết, góp phần giảm giá ca máy, nâng cao chất lƣợng công trình và rút ngắn thời gian thi công. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu của luận văn là sử dụng máy rải bê tông xi măng VF 450 để thi công công mặt đƣờng bê tông xi măng nhằm nâng cao chất lƣợng và giảm giá ca máy nhƣng vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế - kỹ thuật cao của công trình. - Xây dựng mô hình toán để tính các thông số làm việc ở các trạng thái khác nhau từ đó đƣa ra các thông số làm việc hợp lý.
- Ứng dụng các chế độ làm việc đã tính toán cho máy rải VF 450 vào thi công thực tế. Đối tƣợng nghiên cứu Máy rải bê tông xi măng VF 450 do Việt Nam chế tạo. Phạm vi nghiên cứu: - Khảo sát, nghiên cứu đánh giá khả năng ứng dụng máy rải bê tông xi măng tại Việt Nam. - Thu thập tài liệu, nghiên cứu về công nghệ và thiết bị rải bê tông xi măng.
- Sử dụng các phƣơng pháp toán học để tính toán và đƣa ra các thông số làm việc hợp lý của máy có sự trợ giúp của phầm mền tính toán. Phƣơng pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phƣơng pháp khảo sát và nghiên cứu số liệu của máy VF 450 của Việt Nam. Sau đó, áp dụng các phƣơng pháp toán học để tính toán các thông số có sự trợ giúp của phần mềm máy tính để đƣa ra các thông số làm việc 9 HV: HUỲNH MINH VƢƠNG GVHD: NGUYỄN HỮU CHÍ hợp lý cho phù hợp với điều kiện thi công tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm giảm giá ca máy nhƣng vẫn đảm bảo đƣợc chất lƣợng của công trình. 10 HV: HUỲNH MINH VƢƠNG GVHD: NGUYỄN HỮU CHÍ CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC MÁY RẢI MẶT ĐƢỜNG BÊ TÔNG XI MĂNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về công nghệ thi công mặt đƣờng bê tông xi măng (BTXM).1 Phân loại mặt đƣờng BTXM Trong hơn 100 năm phát triển, mặt đƣờng BTXM đƣợc phân ra một số loại nhƣ sau: - Mặt đƣờng BTXM không cốt thép, phân tấm, đổ tại chỗ (thông thƣờng); - Mặt đƣờng BTXM cốt thép.
- Mặt đƣờng BTXM lƣới thép. - Mặt đƣờng BTXM cốt thép liên tục; mặt đƣờng BTXM cốt phân tán. - Mặt đƣờng BTXM lu lèn. - Mặt đƣờng BTXM ứng suất trƣớc.
- Mặt đƣờng BTXM lắp ghép. Tƣơng ứng với mỗi loại mặt đƣờng BTXM có những đặc điểm và phạm vi áp dụng nhất định: - Mặt đƣờng BTXM không cốt thép, phân tấm ra đời sớm nhất và vẫn đang đƣợc áp dụng phổ biến ở nhiều nơi. Chiều dày của tấm từ 15 - 40cm; kich thƣớc tấm thay đổi tuỳ theo từng dự án có thể từ 3 - 7m, thông thƣờng khoảng 5m. Mặt đƣờng BTXM không cốt thép (không kể cốt thép dùng làm thanh truyền lực giữa các tấm) sử dụng cho hầu hết đƣờng ô tô các cấp, các bãi đỗ, bến cảng và sân bay.
Móng của mặt đƣờng BTXM phân tấm thông thƣờng là đất, cát gia cố, vôi, xi măng; đá gia cố xi măng; đôi khi là đá gia cố nhựa đƣờng, BTN hoặc chính là BTXM. Rất ít khi sử dụng móng là cát hoặc đá dăm. 11 HV: HUỲNH MINH VƢƠNG GVHD: NGUYỄN HỮU CHÍ - Mặt đƣờng BTXM cốt thép thƣờng đƣợc sử dụng đối với những tuyến đƣờng có tải trọng lớn nhƣ sân bay, đƣờng chuyên dụng, đƣờng có lƣu lƣợng xe lớn và các công trình đặc biệt có yêu cầu tuổi thọ cao. Về cơ bản, kích thƣớc tấm mặt đƣờng BTXM cốt thép tƣơng tự nhƣ BTXM phân tấm thông thƣờng nhƣng đƣợc tăng cƣờng thêm 2 lớp cốt thép (thép All) chịu lực (trong tính toán thiết kế có kể đến khả năng cùng chịu lực của cốt thép).
- Mặt đƣờng BTXM lƣới thép ra đời chủ yếu nhằm khắc phục và hạn chế các vết nứt do co ngót của bê tông và nứt do nhiệt. Trên cơ sở tính toán thiết kế nhƣ vậy mặt đƣờng BTXM thông thƣờng, lƣới thép (thép All: 10 - 14 mm, @: 10 - 20cm) đƣợc bổ sung và bố trí cách bề mặt mặt đƣờng từ 6 - 10 cm nhằm hạn chế các vết nứt trong quá trình bê tông hình thành cƣờng độ và trong khai thác. Mặt đƣờng BTXM lƣới thép xuất hiện chậm hơn BTXM thông thƣờng và phạm vi áp dụng của nó tƣơng tự nhƣ phạm vi áp dụng của mặt đƣờng BTXM thông thƣờng. - Mặt đƣờng BTXM cốt thép liên tục ra đời nhằm khắc phục những nhƣợc điểm cố hữu của mặt đƣờng BTXM phân tấm thông thƣờng là giảm thiểu các mối nối ngang mặt đƣờng (khe co, giãn).
Hàm lƣợng lƣói thép thiết kế khoảng 0,54%, bao gồm cốt thép dọc (thép All, 16 mm), cốt thép ngang (thép All, 12 mm) đƣợc bố trí liên tục suốt chiều dài đƣờng và đặt ở vị trí 1/3 - ½ bề dày tấm BTXM. Mục đích của việc bố trí cốt thép này không phải là ngăn ngừa vết nứt do tải trọng và ứng suất nhiệt, mà chỉ nhằm hạn chế việc mở rộng khe nứt. Theo yêu cầu, khoảng cách khe nứt nằm trong khoảng 3,5 - 8,0 feets (1,05 - 2,4m), độ mở rộng khe nứt không đƣợc quá 0,04 inch (1,0 mm) nhằm hạn chế nƣớc thấm qua khe nứt phá huỷ cốt thép và bảo đảm mặt đƣờng khai thác đƣợc bình thƣờng. Phạm vi áp dụng của mặt ngƣời BTXM cốt thép liên tục là khắc phục nhƣợc điểm không êm thuận chạy xe do các khe của mặt đƣờng BTXM phân tấm, áp 12 HV: HUỲNH MINH VƢƠNG GVHD: NGUYỄN HỮU CHÍ dụng chủ yếu đối với các tuyến đƣờng có lƣu lƣợng xe lớn, đƣờng cao tốc, đƣờng băng sân bay và kinh phí đầu tƣ ban đầu lớn hơn.
- Mặt đƣờng BTXM cốt phân tán (cốt sợi) chỉ đƣợc sử dụng trong những trƣờng hợp đặc biệt có khả năng chịu lực rất lớn và chống mài mòn cao. Trong khi trộn bê tông tƣơi, ngoài cốt liệu đá và cát thông thƣờng ngƣời ta bổ sung thêm và trộn đều với các loại cốt sợi: thuỷ tinh, kim loại, tổng hợp (acrylic, aramid, cacbon, nylon, polyester, polyethylene, polyproplene) và cốt sợi tự nhiên. BTXM cốt phân tán có cƣờng độ và khả năng chống mài mòn. - Mặt đƣờng BTXM lu lèn là loại mặt đƣờng sử dụng bê tông khô, thi công liên tục (không có mối nối) và bằng thiết bị lu thông thƣờng.
Do mặt đƣờng BTXM lu lèn đƣợc đổ dài liên tục nên trên đó phải làm thêm lớp đá dăm láng nhựa (lớp láng nhựa) nhằm khắc phục các vết nứt do co ngót và do nhiệt độ, hoạt tải gây ra. Chiều dày của lớp BTXM lu lèn dao động trong khoảng 20 cm, móng của nó có thể là các vật liệu gia cố hoặc đá dăm. Mặt đƣờng BTXM lu lèn đƣợc áp dụng có hiệu quả cho các tuyến đƣờng có lƣu lƣợng xe không cao và làm lớp móng cho mặt đƣờng BTXM hoặc mặt đƣờng bê tông nhựa.