mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo gồm ba chƣơng: Chƣơng thứ nhất : Cơ sở lý luận và tình hình nghiên cứu đề tài Chƣơng thứ hai : Đặc trƣng ―câu phức‖ thành phần định ngữ trong tiếng Việt Chƣơng thứ ba : Đối chiếu ―câu phức‖ định ngữ trong tiếng Việt và đơn vị tƣơng ứng trong tiếng Hán. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khuynh hướng tiếp cận ngữ nghĩa - chức năng - cấu trúc E. Benveniste cho rằng ngữ nghĩa là điều kiện cơ bản mà bất kỳ một đơn vị ngôn ngữ nào cũng đều phải thoả mãn để có đƣợc địa vị ngôn ngữ học.
Đây là một thuật ngữ ngôn ngữ học (và có thể nói không chỉ của ngôn ngữ học) thƣờng đƣợc dùng nhƣ một khái niệm khởi nguyên, đƣợc mọi ngƣời thừa nhận mà không cần phải định nghĩa. Ngƣời ta có thể dùng một từ khác để thay thế cho từ ―ngữ nghĩa‖ đã đƣợc biết nhƣ kiểu: nói một cách khác ―ngữ nghĩa‖ là nội dung, cái đƣợc biểu đạt để đối lập với hình thức, cái biểu đạt. Ngữ nghĩa của câu đƣợc giải thích không chỉ dựa vào cấu trúc chìm, mà nó còn dựa vào cấu trúc nổi nữa. Điều này buộc các nhà ngôn ngữ học phải quan tâm nghiêm túc đến các quan hệ giữa ngữ nghĩa và cú pháp.
Cấu trúc ngữ nghĩa có tính chất quyết định trong việc lựa chọn, xác định cấu trúc cú pháp, và cấu trúc cú pháp, đến lƣợt mình, giúp nhận diện đƣợc cấu trúc ngữ nghĩa của câu (góp phần về mặt giáo học pháp trong dạy tiếng nƣớc ngoài). Sự tồn tại của hiện tƣợng đồng ngữ nghĩa và dị cấu trúc, với quan điểm ngữ nghĩa là thành tố quan trọng của ngôn ngữ, L.chafe cho rằng: ―Nếu quan sát ngôn ngữ theo quan điểm ngữ nghĩa thì tính chất quy định lẫn nhau của các câu có thể có một vai trò quan trọng hơn ở những bình diện khác của ngôn ngữ, vì hàng loạt những giới hạn trong phạm vi câu đều mang đặc tính ngữ nghĩa rõ ràng‖ [38,123]. Ngữ nghĩa của một câu là một cấu trúc có nhiều tầng, đƣợc xác định bởi nhiều yếu tố, phụ thuộc vào kết quả cú pháp của câu. Hay nói một cách khác, nghĩa của câu đƣợc xác định còn nhờ vào sự phân tích vị trí chức năng của các đơn vị tạo thành sơ đồ cấu trúc câu.
Theo Chomsky, việc thể hiện ngữ nghĩa thuộc vể các tín hiệu qua trung gian của các quy tắc cú pháp, mà chức năng của các quy tắc đó là xác định một hệ thống quan hệ ngữ pháp quy định sự thể hiện ngữ nghĩa. Nhƣ vậy, phạm vi của cú pháp là những mối quan hệ cú đoạn giữa các từ và nhóm từ đƣợc biểu hiện bằng những phƣơng tiện cú pháp, hình thái và ngữ âm khác nhau, hay nói một cách khác, vấn đề cấu trúc cú pháp của câu là vấn đề trung tâm của cú pháp, đƣợc hiểu là một tập hợp có trật tự các mối liên hệ cú pháp theo một cách thức 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất định. Điểm khác biệt chủ yếu của các lý thuyết vể cấu trúc cú pháp của câu là các đơn vị cú pháp mà chúng đƣợc sử dụng và những mối liên hệ giữa các đơn vị đó. Theo cách tiếp cận của lý thuyết thành phần câu thì trong tổ chức của câu, bất kỳ ngôn ngữ nào- một hệ thống biểu đạt thông báo ngữ nghĩa- từ sẽ đảm nhận một chức năng nhất định và có một ý nghĩa nhất định, nhƣ V.Solsev đánh giá: ― Nếu nhƣ thuật ngữ thành phần câu đƣợc hiểu nhƣ một chức năng nào đó do từ thực hiện trong câu, nhờ đó mà từ có đƣợc nghĩa chức năng hoặc nghĩa thông báo nhất định, thuật ngữ đó cũng có thể là thƣớc đo thông ƣớc các ngôn ngữ khác hệ thống‖ [37,56 ] Chức năng có thể đƣợc hiểu theo hai cách: - Vai trò mà mỗi đơn vị phải đảm nhận để ngôn ngữ có thể thực hiện đƣợc sứ mệnh ― phƣơng tiện tƣ duy‖ ― phƣơng tiện giao tiếp‖ của mình.
Đó có thể là các chức năng ― khu biệt ý nghĩa‖ chức năng ― mang ý nghĩa từ vựng, mang ý nghĩa ngữ pháp‖, chức năng ― mang thông báo‖…. - Vai trò mà mỗi loại đơn vị phải đảm nhận trong việc tổ chức thành những đơn vị bậc cao hơn. Đó có thể là các chức năng ― có thể vận dụng độc lập‖, chức năng ― có thể làm thành phần câu‖… Cách tiếp cận chức năng đối với việc nhìn nhận các hiện tƣợng ngữ pháp cho phép làm sáng tỏ các phạm trù chức năng- ngữ nghĩa, dung lƣợng của chúng, hình dạng, các nhân tố hạt nhân và ngoại biên trong nội bộ của mỗi phạm trù, vai trò và gánh nặng ngữ nghĩa của mỗi nhân tố trong cấu trúc của phát ngôn, phƣơng tiện thể hiện của chúng trong những điều kiện nhất định trong quá trình giao tiếp. Cách tiếp cận chức năng trong việc nghiên cứu các hiện tƣợng ngữ pháp của ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng trên phƣơng diện lý thuyết khi nghiên cứu và xây dựng ngữ pháp chức năng.
Có thể khẳng định chính ngữ nghĩa tạo ra quan hệ mô hình cú pháp. Và chức năng của quan hệ cú pháp không có gì khác hơn là biểu đạt ngữ nghĩa. Hay nói một cách khác thì mọi quan hệ trong hệ thống cú pháp đều có nguồn gốc hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp từ ngữ nghĩa. Bởi vì, để xây dựng câu, điều đầu tiên ngƣời ta phải quan tâm không phải là tìm những từ có nghĩa cụ thể nhƣ ―nhân dân‖ ― học sinh‖….cái chính là ngƣời nói muốn nói gì? chức năng của mỗi từ trong câu là gi? Rồi mới đến kết luận, câu sẽ đƣợc xây dựng theo mô hình nào.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, chức năng của từ quy định vị trí của nó trong cấu trúc. Ví dụ, hai câu : ―Lƣu học sinh gặp phóng viên‖ và ―phóng viên gặp lƣu học sinh‖ với cùng một thành phần từ vựng nhƣ nhau, chức năng chủ ngữ câu (1) làm cho từ ―lƣu học sinh‖ mang giá trị cụ thể, chức năng bổ ngữ trong câu (2) đem lại cho nó giá trị khác. Cũng vậy, đối với từ ―phóng viên‖ ta thấy giá trị ngƣợc lại, vậy ngữ nghĩa đây là ngữ nghĩa chức năng. Cách tiếp cận ngữ nghĩa- chức năng- cấu trúc giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh về hệ thống các đơn vị ngôn ngữ nói chung, và hệ thống ―câu phức‖ nói riêng.
Dĩ nhiên cách tiếp cận nhƣ vậy, không những không cản trở mà còn tạo tiền đề cho việc nhìn nhận các đơn vị cú pháp từ một quan điểm khác quan điểm ngữ dụng-giao tiếp.Quan điểm ngữ dụng-giao tiếp đối với cú pháp đòi hỏi đƣợc nghiên cứu chuyên biệt, nó không thuộc phạm vi của công trình này.2 Quan hệ định ngữ Ngôn ngữ học đại cƣơng đã định vị quan hệ định ngữ nhƣ một trong các kiểu quan hệ cú pháp. Đó là: - Tổng thể các phạm trù nội dung đƣợc thể hiện bằng phƣơng tiện này hay phƣơng tiện khác nhau trong ngôn ngữ. Ví dụ, trong tất cả các ngôn ngữ đều có sự thể hiện các quan hệ giữa chủ thể và vị thể, các phạm trù sở hữu, đánh giá, xác định/ không xác định, tất cả các ngôn ngữ đều có sự phân chia đề và thuyết. - Các thuộc tính chung của bản chất cấu trúc ngôn ngữ có liên quan đến mọi cấp độ ngôn ngữ.
Ví dụ, trong bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có thể tồn tại ít hơn 10 và nhiều hơn 80 âm vị. Vì vậy, các đặc điểm ngữ nghĩa vốn hiện hữu ở mọi ngôn ngữ khác nhau, các phạm trù ngữ pháp không khi nào gây sự khác biệt cơ bản giữa các ngôn ngữ về nội dung của các tƣ tƣởng phản ánh thực tế khách quan, và quan hệ định ngữ cũng không thể nằm ngoài quy luật chung này: chúng tồn tại ở mọi ngôn ngữ, dƣới hình thức này hay hình thức khác. Việc khẳng định đƣợc sự hiện diện của chúng trong cả hai ngôn ngữ Hán và Việt chính là tiền đề để chúng tôi có thể so sánh đối chiếu những hình thức biểu đạt chúng. * Quan hệ định ngữ trong tiếng Việt Trong tiếng Việt, quan hệ định ngữ là một trong những quan hệ bên trong sự khu biệt với các quan hệ bên ngoài.
Định ngữ mở rộng cho danh từ đƣợc các nhà nghiên cứu tiếng Việt xem xét nhƣ là một yếu tố trong quan hệ nội bộ của 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cụm danh từ, có chức năng hạn định phạm vi khái quát danh từ, nêu dấu hiệu đặc trƣng của ngƣời, vật, hiện tƣợng… mà danh từ thể hiện. Đặc điểm nổi bật của định ngữ là không thể thay đổi vị trí với danh từ chính.Theo phƣơng thức thể hiện có thể chia định ngữ thành hai loại: - Loại không có quan hệ từ (QHT) nghĩa là không có QHT đi kèm, Ví dụ : canh cá, nƣớc cháo…. - Loại có QHT, Ví dụ: tình yêu của cha, sự thất vọng vì bệnh tật,…. - Loại có/không có QHT( nghĩa là có hoặc không có QHT) Ví dụ: giày (bằng) da, tình yêu (của) mẹ… Sự hiện diện hoặc vắng mặt của QHT trong cụm từ phụ thuộc vào cấu trúc của nó (số lƣợng và vị trí của định ngữ, độ dài ngắn của các thành phần mở rộng và đƣợc mở rộng).
Trong tiếng Việt, định ngữ cũng có những phƣơng tiện thể hiện phong phú nhƣ trong tiếng Hán, tất cả các loại thực từ (cụm thực từ) đều có khả năng làm định ngữ cho các danh từ, xác định rõ đặc điểm, tính chất của ngƣời, sự vật, sự kiện,… và trả lời cho câu hỏi. Ngoài ra, cũng nhƣ trong tiếng Hán, quan hệ định ngữ trong tiếng Việt cũng có thể đƣợc biểu hiện bằng cụm từ C-V. Chính cụm mày làm thành đối tƣợng khảo sát của luận văn này. Với quan hệ định ngữ đƣợc biểu hiện bằng cụm C – V trong tiếng Việt, có các quan điểm khác nhau: - Các tác giả của giáo trình ―Ngữ pháp tiếng Việt‖ [6] và một số nhà Việt ngữ khác phân tích quan hệ định ngữ ở cấp độ cụm danh từ với thành tố phụ C – V trong câu đơn.
Quan điểm này hiện nay vẫn đƣợc coi là chiếm ƣu thế trong lý luận cũng nhƣ trong thực hành của ngành Việt ngữ học. - Tác giả Hoàng Trọng Phiến phân tích quan hệ định ngữ thuộc từ theo cách mở rộng thành phần bằng kết cấu C – V; và gọi loại câu này là câu trung gian. - Trong tiếng Việt, định ngữ là cụm C –V và có thể hoặc ghép liền với danh từ.