Chương 1: Giới thiệu - Lý do chọn đề tài - Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Câu hỏi và đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu - Ý nghĩa và cấu trúc của đề tài Chương 2: Tổng quan lý thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây - Tổng quan lý thuyết - Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu - Dữ liệu nghiên cứu - Phương ph p nghi n cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp 123doc 7 hƣơng 2: TỔNG QUAN LÝ THUY T VÀ CÁC K T QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆ ƢỚ ÂY 2.1 Tổng quan lý thuyết 2.1 Lý thuyết tân cổ điển Trong các lý thuyết truyền thống của kinh tế vĩ mô, áp lực tạo lợi nhuận của thị trường nội địa khuyến khích các công ty từ các nước công nghiệp đầu tư vốn vào các thị trường này (Pitelis & Sugden, 2000). Lý thuyết tân cổ điển của FDI khẳng định rằng, để trở nên giàu trong một quốc gia hạn chế về số lượng lao động hoặc với chi phí lao động cao tại các quốc gia giàu có, các công ty có xu hướng chuyển tư liệu sản xuất đến các quốc gia kém phát triển và có lao động d i dào để kiếm lợi nhuận cao hơn (Cantwell, 2000). Các lý thuyết chỉ ra dòng chảy vốn từ các quốc gia d i dào về ngu n vốn sang các nước thiếu hụt vốn.2 Lý thuyết vòng đời sản phẩm Lý thuyết này về FDI được viết bởi Raymon Verron 1966. Đó là việc phân tích mối quan hệ liên quan đến chu kỳ của sản phẩm và dòng vốn FDI dương.
Không có tiêu chuẩn cho sản phẩm ở giai đoạn ban đầu, ví dụ như chi phí cho mỗi đơn vị và đặc điểm kỹ thuật của hàng hóa. Tất cả các thông số kỹ thuật hội tụ với nhu cầu ngày càng tăng từ thị trường nội địa cùng lúc; từ đó các dòng sản phẩm được tiêu chuẩn hóa cũng được giới thiệu. Đối với thị trường nội địa bị bão hòa và cạnh tranh mạnh mẽ với các đối thủ trong nước, công ty sẽ xuất khẩu các sản phẩm ra nước ngoài, thường thấy chi phí sản xuất như một yếu tố quyết định lựa chọn vị trí, vì sẽ không có những thay đổi mang tính cách mạng trên sản phẩm được tiêu chuẩn hóa khi sản phẩm đi vào giai đoạn phát triển. Việt Nam trở nên phổ biến hơn với nhà đầu tư nước ngoài khi chi phí đầu tư ở các nước cạnh trạnh tăng, vì vậy thời gian gần đây chúng ta có thể tìm thấy một số báo cáo tin tức về việc c c công ty đa quốc gia cắt giảm một phần sản xuất của họ tại 123doc 8 Trung Quốc và chuyển giao cho các công ty con của họ ở Việt Nam, chẳng hạn như các tấm quảng cáo cho thức ăn McDonald đã được cung cấp bởi Việt Nam thay vì Trung Quốc.
Nói chung, điểm nổi trội của Verron trong Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm vượt trội so với các lý thuyết khác là khả năng đối phó với những thay đổi theo thời gian.3 Lý thuyết nội bộ hóa Lý thuyết nội bộ hóa được phát triển bởi Buckley và Casson năm 1976 để giải thích sự t n tại và chức năng của c c công ty đa quốc gia. Các chi phí của một số giao dịch có thể được giảm bởi hoạt động nội bộ hóa , hay nói cách khác, quá trình sản xuất chỉ trong một công ty thay vì giữa các công ty. Do đó, lợi nhuận trên tài sản (ROA) sẽ cao hơn cho chi phí ít hơn. Một lý do khác của nội bộ hóa là để thay thế các thị trường bên ngoài không hoàn hảo.
Ví dụ, một công ty đa quốc gia từ các nước phát triển có kế hoạch đầu tư vào một thị trường đang phát triển, nơi thiếu các trình độ quản lý, thường là từ lớp trên cùng của hệ thống phân cấp quản lý hoặc kỹ thuật viên từ bộ phận công nghệ, và không thể đào tạo các cán bộ địa phương trong một thời gian ngắn, và doanh nghiệp sẽ chuyển và sử dụng các nhân viên cũ ở một vị trí khác nhau. Bên cạnh đó, một số công nghệ cốt lõi là bí quyết tuyệt đối cho công ty đó sẽ không chuyển đến các công ty khác. Cuối cùng, một số học giả nói rằng hoạt động nội bộ hóa có thể tạo ra xung đột khi người mua và nhà sản xuất có những ý tưởng khác nhau trên thiết lập giá thành sản phẩm, đặc biệt là trong tình hình mà mỗi bên có một vị trí độc quyền (Krugman, 2003).4 Trường phái triết chung Các mô hình chiết trung phát triển bởi John Dunning (1981, 1988) đã trở thành lý thuyết chủ đạo của FDI. Dunning đã cố gắng để tích hợp một loạt các lý thuyết về kinh tế quốc tế trong một cách tiếp cận (Hagen, 1998).
Ông đã kết hợp một phần lý thuyết 123doc 9 kinh tế vĩ mô và thương mại, về những đặc điểm của nước sở tại trông việc thu hút dòng vốn FDI, cũng như lý thuyết kinh tế vi mô và hành vi của công ty, đó là lý do tại sao một công ty đa quốc gia đầu tư vào một địa điểm cụ thể ở nước ngoài. Ba yếu tố quyết định của FDI được xác định trong mô hình này, bao g m Sở hữu, Vị trí và lợi thế của nội bố hóa, mà xác định phạm vi, hình thức và mô hình sản xuất quốc tế của một công ty, nó còn được gọi là các OLI-Mẫu. Lợi thế của sở hữu là điều kiện tiên quyết cho công ty để bắt đầu thực hiện đầu tư nước ngoài. Nó có thể không chỉ những điều kiện chính như vốn, ngu n lực, mà còn là công nghệ và kỹ năng quản lý.
Lợi thế về vị trí ở đây đề cập đến một vị trí nhất định có thể cung cấp một số lợi thế tại nước sở tại, ví dụ như tiếp cận được ngu n nguyên liệu giá rẻ, các nguyên vật liệu sẵn có, các loại thuế đặc biệt hoặc thuế quan (Twomey, 2000). Ưu điểm nội bộ hóa là trực tiếp kiểm soát sản xuất và phân phối thông qua các chi nhánh nước ngoài hoặc các công ty con với mục đ ch giảm chi phí. Tương ứng với ba ưu điểm của nước sở tại, trong lý thuyết của Dunning, có ba động cơ chính để nhà đầu tư quốc tế thực hiện đầu tư (Dunning, 1977, 1993) là: thị trường, độ hiệu quả (giảm chi phí), chi phí. Các các nhà đầu tư tìm kiếm thị trường thì muốn thâm nhập vào các thị trường lớn và phát triển nhanh.
Các các nhà đầu tư tìm kiếm sự hiệu quả thì quan tâm vào việc làm thế nào để giảm thiểu tổng chi phí, chẳng hạn như lựa chọn một vị trí gần quê hương về khoảng cách địa lý, để giảm bớt chi phí vận chuyển, hoặc đầu tư vào một đất nước với chi phí lao động thấp hơn. C c đầu tư về ngu n lực đặt nặng hơn về ngu n cung d i dào và ổn định của nguyên liệu và ngu n năng lượng từ nước sở tại.2 Các yếu tố tác động đến nguồn vốn FDI vào Việt Nam 2.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. GDP bao g m tiêu dùng cá nhân và công cộng, chi tiêu chính phủ, đầu tư, hàng hóa c nhân, chi ti u trong c c 123doc 10 lĩnh vực xây dựng và thương mại GDP được dùng để phản ánh tình hình ho ạt động của một nền kinh tế. Theo Fedderke và Romm (2006) đã chỉ ra rằng quy mô thị trường của một quốc gia được đo lường bằng GDP thực thì có ảnh hưởng cùng chiều với dòng vốn FDI.
GDP của một quốc gia càng cao thì sẽ thu hút được dòng vốn FDI càng nhiều đổ vào quốc gia đó (Uddin và Boateng 2011). Điều này là bởi vì GDP càng c ao thể hiện quy mô thị trường ngày càng được mở rộng, do đó nhu cầu về vốn trong nền kinh tế càng tăng điều này sẽ thu hút được nhiều thêm dòng vốn FDI đổ vào để có thể đ p ứng được nền kinh tế đó 2.2 Lãi suất Theo Billington (1999) đã đưa ra ết quả rằng lãi suất là một trong những nhân tố quyết định việc đầu tư FDI tại 7 quốc gia công nghiệp Tương tự, Hong và Kim (2002) cũng đã b o c o rằng lãi suất thấp ở c c nước trong khối liên minh EU là một trong những yếu tố để các công ty đa quốc gia tại Hàn Quốc quyết định đầu tư sản suất tại các quốc gia này. Một bằng chứng khác cho thấy việc lãi suất thấp ở quốc gia nội địa cũng sẽ thu hút được dòng vốn FDI do lãi suất thấp sẽ tạo lợi thế về giá cho các nhà đầu tư theo Culem (1988) 2.3 Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đo i thể hiện giá trị của đ ng nội tệ so với một đ ng tiền khác. Vì vậy, tỷ giá hối đo i sẽ có hai thành phần, đ ng nội tệ và ngoại tệ được niêm yết theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Theo cách trực tiếp, đ ng ngoại tệ sẽ là đ ng tiền cơ sở còn đ ng nội tệ sẽ là đ ng tiền đối ứng và ngược lại, theo phương ph p ni m yết gián tiếp, đ ng ngoại tệ sẽ là đ ng tiền đối ứng và đ ng nội tệ sẽ là đ ng tiền cơ sở. 123doc 11 Theo Tolentino (2010) đã viết rằng có hai c ch cơ bản để tỷ giá hối đo i ảnh hưởng đến FDI: hiệu ứng tài sản và giá thành sản xuất. Một sự giảm của đ ng nội tệ tạo ra sự giảm giá thành sản xuất nội địa, và điều này sẽ có t c động ảnh hưởng làm tăng lợi nhuận của việc đầu tư vốn ra nước ngoài. Với việc lợi nhuận tăng cao hơn sẽ cơ bản sẽ làm cho việc thu hút dòng vốn FDI tăng l n Còn đối với ảnh hưởng của hiệu ứng tài sản, li n quan đến việc sức khỏe của c c nhà đầu tư nước ngoài đối với c c nhà đầu tư trong nước cũng góp phần tạo sự giảm giá của đ ng nội tệ.