Chương 1: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NHTM - Chương 2: Thực trạng về khả năng thanh khoản của Ngân hàng TMCP Á Châu - Chương 3: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của Ngân hàng TMCP Á Châu - Chương 4: Kết luận và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thanh khoản của Ngân hàng TMCP Á Châu. SV: Nguyễn Hong Nhung MSV: 11153370 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Quynh Loan CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE CAC YEU TO ANH HUONG DEN KHA NANG THANH KHOAN CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái quát về khả năng thanh khoản của Ngân hang thương mai 1.
Khái niệm khả năng thanh khoản của Ngân hàng thương mại Tinh thanh khoản cua tài san Theo Keynes (1930), một tài sản có tính thanh khoản tốt nếu nó có thể được chuyên đổi thành tiền mặt một cách nhanh chóng và với chi phí thấp. Như vậy có thé hiểu rằng thanh khoản là thước đo về khả năng va sự dé dàng mà tài sản có thé được chuyển đổi thành tiền mặt. Thời gian và chi phí cho việc này càng cao thì tính thanh khoản của tài sản càng thấp và ngược lại. Tính thanh khoản của tài sản phản ánh rủi ro khi chuyên đổi tài sản thành tiền mặt trong một khoảng thời gian nhất định.
Dé duy trì thanh khoản, các tổ chức tài chính phải có đủ tài sản dé đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn của mình, chăng hạn như việc rút tiền của khách hàng (Phan Thị Thu Hà, 2013). Tính thanh khoản của nguôn vốn Tính thanh khoản của nguồn vốn được do bang thời gian và chi phí để huy động được nguồn vốn khi cần thiết. Cũng giống tính thanh khoản của tài sản, tính thanh khoản của nguồn vốn sẽ càng cao nếu thời gian và chi phí càng thấp và ngược lại. Tính thanh khoản này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như mức độ phát triển kinh tế cũng như thị trường tài chính, uy tín của NHTM (Phan Thị Thu Hà, 2013).
Tính thanh khoản của ngân hàng Theo Ủy ban giám sát ngân hàng Basel (2008), tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng các ngân hàng có thé đáp ứng các khoản nợ của họ khi đến hạn thanh toán. IMF cũng định nghĩa thanh khoản là khả năng các tổ chức tài chính thực hiện các khoản thanh toán theo thỏa thuận một cách kip thời. Tính thanh khoản của ngân hàng được thể hiện bởi tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn vốn. Một ngân hàng được coi là có khả năng thanh khoản cao nếu ngân hàng có thể tiếp cận được những khoản vốn không những với chi phí thấp mà quan trọng là đúng thời điểm ngân hàng cần đề đáp ứng nhu cầu khách hàng (Phan Thị Thu Hà, 2013).
SV: Nguyễn Hong Nhung MSV: 11153370 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Quynh Loan 1. Cac trang thai thanh khoan cua Ngan hang thuong mai Cau thanh khoản được hiểu là nhu cầu thanh toán của khách hang đồng thời là nghĩa vụ mà ngân hàng phải đáp ứng. Cầu thanh khoản thường đến từ hai hoạt động chính: (1) khách hàng rút tiền gửi tại ngân hàng, (2) khách hàng vay vốn từ ngân hàng, có thé là khoản vay mới, tai cấp rút vốn theo hạn mức tín dụng đã định hoặc gia hạn hợp đồng tín dụng.
Ngoài ra cầu thanh khoản còn phát sinh khi ngân hàng cần thanh toán các khoản phải trả khác, thanh toán chi phí hoạt động hay thanh toán cé tức cho cô đông. Cung thanh khoản phản ánh khả năng chỉ trả của ngân hàng trước nhu cầu thanh toán của khách hàng. Cung thanh khoản bao gồm việc nắm giữ tài sản thanh khoản và duy trì khả năng huy động vốn mới. Nguồn cung thanh khoản quan trọng nhất là tiền gửi của khách hàng trên tài khoản mới cũng như trên tài khoản hiện tại.
Các nguồn cung khác có thé là các khoản tín dụng được khách hàng thanh toán, nguồn thu từ bán tài sản mà quan trọng là các chứng khoán trong danh mục đầu tư của ngân hàng, doanh thu từ cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động vay nợ trên thị trường tiền tệ. Chênh lệch giữa cung và cầu thanh khoản tạo nên trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position) của ngân hàng tại mọi thời điểm. Nếu chênh lệch này mang giá trị dương tức là ngân hàng dang thang dư thanh khoản (Liquidity Surplus) thì ngân hàng nên xem xét đầu tư khoản thang dư này cho đến thời điểm chúng được sử dung dé đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai. Nếu chênh lệch này mang giá trị âm tức là ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản (Liquidity Deficit) thì ngân hàng phải nhanh chóng quyết định xem vốn thanh khoản bé sung sẽ được huy động từ đâu và vào lúc nào.
Rất hiếm khi tại một thời điểm cầu thanh khoản bằng cung thanh khoản nên thông thường thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản là các vấn đề mà ngân hàng luôn phải đối mặt. Rui ro thanh khoản cua Ngân hàng thương mai 1. Khái nệm và nguyên nhân của rủi ro thanh khoản Khái niệm Theo Rose (2001), rủi ro thanh khoản là khả năng NHTM rơi vào tình trạng thiếu tiền mặt đồng thời không có khả năng vay mượn đề đáp ứng nhu cầu rút tiền, vay vôn và các nhu câu khác của khách hàng. SV: Nguyễn Hong Nhung MSV: 11153370 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3 GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Quynh Loan Theo Duttweiler (2009), rủi ro thanh khoản phát sinh khi NHTM không thé thực hiện nghĩa vụ thanh toán tại một thời điểm nao đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chỉ phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, từ đó có thê kéo theo những hậu quả không mong muốn với NHTM. Các ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản bởi vì họ chuyền đối tiền gửi lỏng (nợ) thành các khoản vay không thanh khoản (tài sản). Đây là hoạt động chính của ngân hàng và đảm bảo tính liên tục của hoạt động này là vai trò của quản lý rủi ro thanh khoản. Không có một tô chức tài chính nào không gặp phải rủi ro thanh khoản và xu hướng gần đây cho thấy răng đây là một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự thất bại của ngân hàng hiện nay.
Do đó, nếu tài chính tổ chức muốn kiếm lời thì nên ghi nhớ rằng rủi ro thanh khoản vẫn luôn hiện hữu và phải có các biện pháp quản lý tối nhất. Nguyên nhân của rủi ro thanh khoản Thứ nhất, các ngân hàng huy động tiền gửi ngắn hạn và dự trữ từ các cá nhân, doanh nghiệp và từ các tổ chức cho vay khác sau đó quay vòng tạo tín dụng đài hạn từ các khoản nợ của họ. Hiếm khi dòng tiền đến từ tài sản lại cân bang một cách chính xác với tiền mặt chảy ra để trang trải các khoản nợ. Các ngân hàng nắm giữ một tỷ lệ nợ cao phải trả ngay lập tức như tiền gửi không kỳ hạn và tiền đi vay thị trường liên ngân hàng.
Do đó, các ngân hàng phải luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngay lập tức, đặc biệt là vào cuối tuần của tuần đầu tiên mỗi tháng, trong một số mùa nhất định trong năm (Drehmann & Nikolaou, 2010). Một nguyên nhân của van dé rủi ro thanh khoản là các ngân hàng thường nhạy cảm với những thay đổi về lãi suất; một số người gửi tiền sẽ rút tiền của họ dé tìm kiếm lợi nhuận cao ở nơi khác. Nhiều khách hàng có thé trì hoãn các khoản vay mới và sử dụng hạn mức tín dụng khác có lãi suất thấp hơn. Do đó, việc thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến cả nhu cầu gửi tiền và nhu cầu đối với các khoản vay của khách hàng.
Hơn nữa, các động thái lãi suất ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thé cần phải bán dé tăng thêm các quỹ long và ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vay trên thị trường tiền tệ (Drehmann & Nikolaou, 2010). Một tổ chức tài chính phải dành sự ưu tiên cao trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng. Thất bại trong lĩnh vực này có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho SV: Nguyễn Hong Nhung MSV: 11153370 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Quynh Loan tổ chức.
Một trong những nhiệm vu quan trong nhất của thanh khoản quan lý là giữ liên lạc chặt chẽ với các ngân hàng gửi tiền lớn nhất và chủ sở hữu các khoản tín dụng lớn chưa sử dụng dé xác định có nên rút tiền hay không. Ngoài ra, khoản nợ quá hạn là nguyên nhân chính gây ra rủi ro thanh khoản trong một tổ chức tài chính, lấy ví dụ một khách hàng tiềm năng nhận được khoản vay từ ngân hàng và đồng ý thanh toán vào một ngày nhất định nhưng khách hàng đó không thé thanh toán lại theo đề xuất trong khi các khách hàng khác cần rút tiền của họ, trong trường hợp này rõ ràng là ngân hàng sẽ thiếu thanh khoản và tạo ra nỗi sợ hãi trong tâm trí của khách hang do đó ảnh hưởng đến sự bền vững của tô chức tín dụng. Bên cạnh đó, gian lận và tham 6 từ các thành viên của tô chức có thé gây ra rủi ro thanh khoản cho tô chức đó dẫn đến nguy cơ sụp đồ của ngân hàng. Các nguyên tắc của Basel về quản trị thanh khoản Ngân hàng thương mại Ủy ban giám sát ngân hàng Basel là một ủy ban giám sát ngân hàng được thành lập bởi các thống đốc NHNN của Nhóm Mười quốc gia vào năm 1975.
Nó bao gồm đại diện cấp cao của các cơ quan giám sát ngân hàng và NHNN từ Bi, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điền, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Các nguyên tắc đánh giá công tác quản lý thanh khoản của NHTM được Ủy ban giám sát ngân hàng Basel đưa ra như sau: Bang 1.1: Tóm tắt các nguyên tắc của Basel II Mục đích của Nguyên tắc Nội dung chính nguyên tắc Nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc 1 Ngân hàng nên thiết lập một khung quản cho việc quản lý và lý rủi ro thanh khoản mạnh mẽ dé đảm bảo giám sát rủi ro thanh tính duy trì thanh khoản.