CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG DỰ ĐỊNH NGHỈ VIỆC CỦA NHÂN VIÊN TRONG TRUNG TÂM CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG METRO 1.1 Giới thiệu Chương một trình bày tổng quan các lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng dự định nghỉ việc của nhân viên, xem xét các công trình nghiên cứu thực tiễn về nghỉ việc nhân viên, và xây dựng mô hình nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu.2 Khái niệm về nghỉ việc của nhân viên Mobley (1982) định nghĩa rằng nghỉ việc là sự chấm dứt với tư cách là thành viên của công ty của một cá nhân mà đã nhận lương từ công ty đó. Theo Woods (1995), mỗi lần nhân viên nghỉ việc tự nguyện hay không tự nguyện thì phải có nhân viên mới được thuê và đào tạo để thay vào vị trí thiếu. Một quy trình thay thế như vậy được xem là quy trình thay thế lao động. Sự thay thế lao động được định nghĩa bởi Price (1997) là tỷ số thành viên mà rời khỏi công ty so với tổng số thành viên hiện có trong một giai đoạn nghiên cứu.
Việc thay thế lao động được xem là nhân tố đáng kể mà việc quản lý có thể ảnh hưởng (White, 1995). Sự thay thế ít xảy ra được xem là tài sản trong thị trường cạnh tranh, thay thế xảy ra thường xuyên được xem là vấn đề của quản lý (Bannister và Griffith, 1986; Glebbeek và Bax,, 2004). Trong nghiên cứu được thực hiện với trường đại học cộng đồng bang Ohio, Kutilek (2000) nhận định rằng tỷ lệ nghỉ việc 7% từ năm 1995-1998. Đây là tỷ lệ nghỉ việc thấp và là chỉ số khuyến khích ổn định nhân viên.
Kutilek so sánh với các hệ thống giáo dục khác cho thấy tỷ lệ nghỉ việc cũng khoảng 6-7%.3 Ảnh hưởng của nghỉ việc đến doanh nghiệp Matt McConell cho rằng 70% đáp viên trong nghiên cứu nhận định rằng nghỉ việc ảnh hưởng đến đạt được mục tiêu, trong khi đó 15% khác cho là nghỉ việc là nguyên nhân chính của việc thiếu thành công. Rõ ràng, việc giảm rủi ro tới lòng trung thành khách hàng là lí do thuyết phục cho bất kỳ chương trình về tỷ lệ nghỉ việc. 85% xác định nghỉ việc ảnh hưởng đến thành công một cách đáng kể Biểu đồ 1.1: Thể hiện ảnh hưởng của nghỉ việc đến việc đạt thành công “Nguồn: báo cáo của Matt McConnell trong”True Cost of Attrition”, tháng 10, 2007” Mobley (1982) cho rằng quản lý nghỉ việc hiệu quả yêu cầu kiểm tra quá trình quản lý nguồn nhân lực, bao gồm tuyển dụng, lựa chọn, sự hòa nhập của nhân viên vào tổ chức sớm, thiết kế công việc, tiền thưởng, giám sát, hoạch định công việc, điều kiện và lịch làm việc. Nghỉ việc không chỉ ảnh hưởng doanh nghiệp mà cá nhân cũng bị ảnh hưởng.
Theo Phillips & Connell (2003), có nhiều cách tính toán để xác định chi phí trực tiếp và gián tiếp đến tổ chức phù hợp chi phí nghỉ việc của nhân viên. Thật may mắn nhiều nghiên cứu chi phí nghỉ việc chi tiết được phát triển trong những tổ chức 8 và phổ biến tài liệu. Bởi vì quá nhiều được phổ biến, nhiều tổ chức không cần sử dụng nguồn lực để hướng dẫn toàn bộ chi phí đã được đưa vào. Theo nghiên cứu của Matt McConell, có 2 loại chi phí là chi phí hiện và chi phí ẩn.
Chi phí hiện rõ ràng và được tính trong hầu hết bất kỳ ngân sách vận hành trung tâm chăm sóc khách hàng như là tuyển dụng, đào tạo nhân viên mới. Chi phí ẩn: hầu hết mọi người đồng ý rằng những nhân viên mới không cung cấp dịch vụ chăm sóc khách hàng bằng nhân viên cũ. Với số lượng lớn khách hàng ngưng giao dịch vì phục vụ không bằng lúc trước do nhân viên cũ giảm thay vào đó là nhân viên mới, doanh thu của tổ chức sẽ bị giảm. Chi phí ẩn xảy ra trong suốt thời gian điện thoại viên bắt đầu lấy cuộc gọi đến khi thành thạo, tỷ lệ nghỉ việc cao thì chi phí ẩn này càng cao.
Theo tính toán chi phí nghỉ việc nhân viên trực tuyến, được xem là những chi phí kết hợp những chi phí bỏ trống, thay thế, đào tạo, nghỉ việc đối với một điện thoại viên thì chi phí là $7185 (Pinkovitz, Moskal, & Green, 2003). Chi phí này dựa trên mức lương $30,000. Chi phí khác được thảo luận bởi Arthur (2001), cung cấp một công thức dự đoán chi phí nghỉ việc. Trung bình chi phí nghỉ việc là 25% lương hàng năm của nhân viên, cộng với chi phí phúc lợi.
Điển hình, những lợi ích đến từ 30% lương. Với công thức này, một điện thoại viên kiếm $30,000, tính toán sau cung cấp một dự đoán chi phí nghỉ việc.25= $2,250 Tổng chi phí nghỉ việc= $9,750/nhân viên 9 1.4 Những nhân tố ảnh hưởng dự định nghỉ việc của nhân viên 1.1 Nghỉ việc tự nguyện và không tự nguyện Có nhiều nguyên nhân giải thích lý do nhân viên rời khỏi công ty. Theo cách truyền thống cho rằng việc nghỉ việc nhân viên là tự nguyện hoặc không tự nguyện. Nghỉ việc tự nguyện như là nhân viên không hứng thú trong công việc hay nhân viên cuốn hút vào công việc khác vì những lợi ích vật chất.
Có nhiều nguyên nhân khác khiến nhân viên nghỉ việc như là những nhân tố làm công việc căng thẳng, thiếu cam kết trong tổ chức, sự không hài lòng trong công việc Firth et al (2004). Manu et al. (2004) cho rằng nhân viên rời khỏi công ty vì những lí do thuộc về kinh tế. Những điều kiện thị trường địa phương tốt nâng cao sự ổn định cho tổ chức Schervish (1983).
Những tổ chức lớn có thể cung cấp cho nhân viên những cơ hội tốt hơn như là sự phát triển và lương cao, Vì thế tạo nên sự gắn bó với công ty lâu dài hơn (Idson and Feaster 1990). Thông tin cung cấp để thực hiện công việc tốt bị thiếu, những kỳ vọng không rõ ràng của giám sát, phương pháp đánh giá kết quả thực hiện công việc mơ hồ, công việc áp lực, thiếu sự nhất trí về trách nhiệm, cách thực hiện công việc có thể tạo cho nhân viên cảm giác thiếu sự liên quan, ít thỏa mãn với nghề nghiệp, công việc, thiếu cam kết với tổ chức và cuối cùng họ rời khỏi tổ chức (Tor et al. Nếu vai trò của nhân viên không rõ ràng điều này cũng là nguyên nhân nghỉ việc của họ. Có một số nhân tố ngoài tầm kiểm soát của quản lý được liệt kê trong nghỉ việc không tự nguyện đó là sự chết, sự không còn khả năng làm việc của nhân viên (Campion, 1991).
Ngoài ra còn có các nhân tố khác cũng thuộc nghỉ việc không tự nguyện đó là nhu cầu chăm sóc con, cao tuổi. Ngày nay, những nhân tố đó không được xem là nghỉ việc không tự nguyện, những quy định nhà nước và những chính sách công ty tạo ra cơ hội cho những nhân viên đó trở lại làm việc, và tiếp tục làm việc với điều kiện linh động hơn.2 Thuyết hai yếu tố của Herzberg (1959) Theo thuyết hai yếu tố của Herzberg, một số yếu tố liên quan tới sự thỏa mãn, còn được gọi là các yếu tố động viên và các nhân tố này khác biệt với các yếu tố liên quan đến sự bất mãn – còn gọi là các yếu tố duy trì. Đối với các nhân tố động viên nếu giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thỏa mãn, từ đó sẽ động viên người lao động làm việc tích cực. Nhưng nếu giải quyết không tốt sẽ tạo ra tình trạng chưa thỏa mãn chứ chưa chắc bất mãn.
Đối với các nhân tố duy trì, nếu giải quyết không tốt sẽ tạo ra sự bất mãn, nhưng nếu giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không bất mãn chứ chưa chắc có tình trạng thỏa mãn. Sự bất mãn chỉ xảy ra khi những yếu tố mang tính duy trì không hiện diện trong công việc: lương, địa vị, an toàn trong công việc, điều kiện làm việc, chính sách công ty, mối quan hệ với đồng nghiệp, sự giám sát…Herzberg sử dụng các yếu tố duy trì bởi vì khi các yếu tố này không động viên nhân viên thì nó vẫn giúp nhân viên tiếp tục duy trì công việc hiện tại. Nếu các yếu tố này không được hiện diện trong công việc thì không duy trì nhân viên hay việc nghỉ việc sẽ xảy ra. Vì thế, đây là các yếu tố ảnh hưởng đến nghỉ việc của nhân viên.
Yếu tố ảnh hưởng nghỉ việc Định nghĩa nhân viên Điều kiện làm việc Điều kiện làm việc không ảnh hưởng đến hiệu quả công việc miễn là nó khá tốt. Ngược lại, nếu điều kiện làm việc trở nên tồi tệ hơn thì công việc sẽ bị ảnh hưởng hơn theo hướng tiêu cực. Khi điều kiện làm việc vượt qua mức khá tốt nó sẽ làm cho kết quả công việc khá hơn đôi chút Chính sách và quy định Các chính sách và quy định chi phối người sử dụng quản lý của công ty lao động và người lao động. Nếu các chính sách không tốt mang lại kết quả xấu, còn nếu chính sách tốt thì cũng động viên nhân viên.
11 Sự giám sát Là năng lực chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo và sự cởi mở của nhà quản lý trong quá trình kiểm soát nhân viên thực hiện công việc Những mối quan hệ Mối quan hệ không tốt giữa các cá nhân sẽ ảnh giữa cá nhân với cá hưởng tiêu cực đến hiệu quả công việc, mất đi động nhân cơ làm việc. Nhưng khi mối quan hệ tốt đẹp nó cũng không tạo ra sự khác biệt đến hiệu quả làm việc Tiền lương Tiền lương không thỏa đáng thì nhân viên nghỉ Địa vị Khi quen với địa vị hiện tại thì địa vị không đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích nhân viên làm việc. Tuy nhiên, nhận thức về sự sút giảm địa vị có thể làm sa sút nghiêm trọng tinh thần làm việc.3 Thuyết nghiên cứu của Matt McConell (2007) Theo nghiên cứu của Matt McConell cho rằng lương hầu như thường là nguyên nhân nghỉ việc, trong khi đó nguyên nhân đầu tiên của lí do nghỉ việc theo báo cáo là công việc không phải là kỳ vọng của nhân viên. Nếu kết hợp những nguyên nhân đầu tiên và thứ hai của nghỉ việc lại thì số ý kiến cho rằng “lương” là nguyên nhân nghỉ việc nhiều bằng với “công việc không phải kỳ vọng”.2: Biểu đồ thể hiện những lý do nghỉ việc “Nguồn: báo cáo của Matt McConnell trong”True Cost of Attrition”, tháng 10, 2007” Tuy nhiên, các doanh nghiệp mà McConnell nghiên cứu cho rằng những phương pháp giảm tỷ lệ nghỉ việc hiệu quả nhất là nâng cao việc đào tạo nhân viên mới, gia tăng đào tạo và những thông tin cho những nhân viên hiện tại, và đánh giá những chương trình đào tạo giữa giám sát-nhân viên.