CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ INTERNET BANKING VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ INTERNET BANKING 1. Dịch vụ ngân hàng điện tử a. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking viết tắt là E-banking hay ebanking) là sự kết hợp giữa một số hoạt dộng dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông.
Cụ thể hơn, ebanking là một hệ thống phần mềm tin học cho phép khách hàng có thể tìm kiếm thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua phương tiện điện tử (công nghệ thông tin, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự). Các dịch vụ ngân hàng điện tử có thể được mô tả bằng nhiều cách. Trong một hình thức rất đơn giản, có nghĩa là cung cấp thông tin hay dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng, thông qua một máy tính, truyền hình, điện thoại hay điện thoại di động (Daniel, 1999). Internet banking cho phép khách hàng truy cập vào hệ thống thông tin của ngân hàng và tài khoản của họ để thực hiện các giao dịch của ngân hàng.
Internet banking cung cấp cho khách hàng các tiện ích như truy cập vào tài khoản, chuyển tiền và mua các sản phẩm / hàng hóa hay dịch vụ thanh toán trực tuyến (Sathye, 1999). Và ngày này internet banking là kênh chính của ebanking. Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử: - Dịch vụ ngân hàng trực tuyến (internet banking) giúp khách hàng thực hiện các giao dịch với ngân hàng qua mạng Internet. Để tham gia, khách hàng truy cập vào website của ngân hàng và thực hiện giao dịch, truy cập thông tin Luan van 10 cần thiết.
Khách hàng cũng có thể truy cập vào các website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán thông qua ngân hàng. - Dịch vụ Telephone banking: khách hàng sẽ gọi điện thoại đến trung tâm cung cấp dịch vụ bằng một (hoặc nhiều) số điện thoại đuợc cung cấp. Để đuợc chứng thực là khách hàng hợp lệ, khách hàng sẽ phải nạp mã số nhận dạng cá nhân (PIN) hoặc mật khẩu bằng cách sử dụng các phím trên điện thoại. Thông thuờng, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại chỉ đáp ứng một số dịch vụ ngân hàng cơ bản như kiểm tra số dư tài khoản hoặc báo cáo chi tiêu của khách hàng.
- Dịch vụ PC banking: để thực hiện dịch vụ này, khách hàng phải đuợc trang bị máy tính với cấu hình phù hợp, thiết bị điều biến / giải biến (mordem), đuờng dây điện thoại truy cập và đặc biệt là phải có chương trình phần mềm đuợc cài đặt trên máy, tương thích với phần mềm cung cấp dịch vụ. Khách hàng sẽ quay số trực tiếp để kết nối với trung tâm cung cấp dịch vụ thông qua điện thoại. Sau khi thực hiện các buớc chứng thực (nhập số PIN hoặc mật khẩu giao dịch), khách hàng sẽ có quyền thực hiện các giao dịch ngân hàng từ máy tính cá nhân. - Dịch vụ Mobile banking: đây là loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ viễn thông không dây của mạng di dộng (mobile network) bao gồm việc thực hiện dịch vụ ngân hàng bằng cách kết nối điện thoại di động (mobile phone) với trung tâm cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử (tương tự như home /PC banking) và kết nối Internet trên điện thoại di động sử dụng giao thức truyền thông WAP (Wireless Application Protocol).
Dịch vụ ngân hàng qua mạng viễn thông không dây yêu cầu khách hàng cần đuợc trang bị thiết bị kết nối thích hợp (điện thoại di động hiện đại sử dụng công nghệ WAP, đa băng tần.) và đuợc cài đặt chương trình phần mềm phù hợp. - Máy rút tiền tự động - ATM (Automated Teller Machine): Khách hàng Luan van 11 dùng thẻ tín dụng (credit card) hoặc thẻ ghi nợ (debit card) để rút tiền mặt. Máy rút tiền tự động sẽ chứng thực thẻ sau khi nguời sử dụng nạp mã số nhận dạng cá nhân (Personal Identity Number – PIN). Để hạn chế rủi ro trong truờng hợp bị mất thẻ và lộ mã số nhận dạng cá nhân, khách hàng và ngân hàng có thể điều chỉnh hạn mức rút tiền mặt phụ thuộc vào số dư trong tài khoản thanh toán của khách hàng.
Mỗi ngân hàng thuờng đưa ra các hệ thống máy ATM riêng biệt cho ngân hàng mình. Khách hàng rút tiền tại các máy ATM của ngân hàng mà mình có tài khoản. Tuy nhiên, khách hàng cũng có thể rút tiền từ máy ATM của ngân hàng khác nhưng phải trả một mức phí tương ứng. - Thẻ thông minh (Smart Cards): thẻ nhựa có chứa các vi mạch cho phép dữ liệu được lưu trên chúng.
Thẻ thông minh đuợc sử dụng để mua hàng trên mạng, thanh toán khi mua các sản phẩm và dịch vụ, thấu chi, nộp tiền mặt, rút tiền mặt,…. Dịch vụ internet banking Internet banking liên quan đến những hệ thống cho phép khách hàng của ngân hàng truy cập vào tài khoản của họ hay nắm bắt những thông tin về sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng thông qua một máy tính cá nhân (PC) hay một thiết bị thông minh nào khác. Internet banking liên quan đến việc phân phối các dịch vụ ngân hàng qua mạng internet. Dịch vụ internet banking cho phép khách hàng thực hiện giao dịch trực tuyến mà không cần đến ngân hàng.
Các dịch vụ được thực hiện thông qua internet banking như truy vấn, sao kê tài khoản, chuyển khoản, thanh toán…, và cả các dịch vụ mới của ngân hàng như chi trả hóa đơn điện tử, đóng thuế, trả tiền điện, tiền nước. Chỉ cần một chiếc máy tính hoặc điện thoại di động có thể kết nối internet và mã truy cập do ngân hàng cung cấp, khách hàng có thể giao dịch với ngân hàng một cách linh động mọi lúc mọi Luan van 12 nơi thông qua dịch vụ internet banking một cách an toàn và bảo mật. Tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận, internet banking tiếp cận được nhiều khách hàng, tăng doanh số, chất lượng dịch vụ tốt hơn, biến đổi hoạt động kinh doanh thành nhiều hình thức như cung cấp các dịch vụ phi tài chính, liên minh hoạt động với các ngành công nghiệp khác nhau ( điện, nước, hàng không, thuế … ) và vẫn duy trì thị phần (Carlson, 2001). Theo Michael Karlin, Chủ tịch và Giám đốc điều hành của ngân hàng đầu tiên trên thế giới, Mạng an ninh đầu tiên của ngân hàng, ý tưởng của Internet Banking như sau: - Bạn không cần phải mua thêm bất kỳ phần mềm, lưu trữ bất kỳ dữ liệu nào trên máy tính của bạn, sao lưu bất kỳ thông tin, vì tất cả các giao dịch xảy ra trên máy chủ ngân hàng trên cơ sở hạ tầng của Internet.
- Bạn sẽ có thể sử dụng các dịch vụ ngân hàng bất cứ nơi nào nhưng bạn cần phải có một máy tính có kết nối mạng, bất kể bạn đang ở đâu (ví dụ như ở nhà, tại văn phòng, hoặc ở nước ngoài). - Bạn có thể sử dụng các dịch vụ ngân hàng 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, và 365 ngày một năm. Bạn không cần phải mở một tài khoản ngân hàng hoặc giao dịch thẻ ATM và kiểm tra giấy tờ. Internet banking cung cấp nhiều lợi ích cho các ngân hàng cũng như khách hàng của họ.
Những lợi ích chính đó là tiết kiệm chi phí, hiệu quả, nâng cao uy tín và chất lượng dịch vụ khách hàng tốt hơn và sự hài lòng của khách hàng (Brogdon, 1999; Jayawardhena và Foley, 2000). Theo một cuộc khảo sát toàn cầu của Booz Allen và Hamilton (1997), đưa vào sử dụng internet banking chỉ tốn 1 - 2 triệu đô la, thấp hơn so với việc cho xây dựng một chi nhánh ngân hàng có trụ sở. Chi phí hoạt động của ngân hàng truyền thống chiếm 50% đến 60% doanh thu, trong khi chi phí hoạt động của internet banking ước tính tốn 15% đến 20% doanh thu của nó. Luan van 13 Theo Robinson (2000) chi phí của một giao dịch điện tử là ít hơn đáng kể so với việc thực hiện giao dịch tại chi nhánh.
Theo Sheshunoff (2000) cho rằng động lực quan trọng nhất đằng sau việc thực hiện hoàn thiện dịch vụ internet banking của các ngân hàng là việc xóa bỏ rào cản cho khách hàng. Ông cho rằng, một khi khách hàng chuyển sang sử dụng dịch vụ internet banking với đầy đủ các tính năng thì việc khách hàng đến các chi nhánh giao dịch sẽ giảm đi đáng kể. Theo Mols (1998) thực hiện một cuộc khảo sát tại Đan Mạch cho rằng internet banking có ích cho việc tăng cường hoạt động bán chéo và tạo sự khác biệt về giá. Internet banking giúp cho ngân hàng cung cấp hàng loạt các dịch vụ 24/7 đến với khách hàng.
Internet banking là hấp dẫn vì người tiêu dùng hài lòng hơn với ngân hàng của họ, ít nhạy cảm với giá, và đưa ra những lời đánh giá tích cực hơn khách hàng của ngân hàng khác. Và còn tuyên bố rằng internet banking cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích hơn với chi phí thấp hơn. Turban et al. (2000) chỉ ra rằng internet banking rất có lợi cho khách hàng vì tiết kiệm chi phí, thời gian và không gian nó cung cấp, phản hồi nhanh chóng với những khiếu nại và giao dịch với ngân hàng dễ dàng hơn.
Tóm lại, internet banking trong ngân hàng cung cấp nhiều lợi ích cho chính ngân hàng và cả khách hàng của họ. Các cấp độ của internet banking Hiện nay, internet banking có ba cấp độ a. Cấp độ cung cấp thông tin (Informative) Đây là cấp độ dịch vụ cơ bản của internet banking. Nhìn chung, ngân hàng cung cấp những thông tin thị trường về những sản phẩm của ngân hàng.
Sự rủi ro đối với cấp độ dịch vụ này là thấp, một hệ thống thông tin đặc thù không ranh giới giữa người cung cấp (server) và mạng lưới hệ thống bên Luan van 14 trong của ngân hàng. Cấp độ này của internet banking có thể được cung cấp bởi ngân hàng và các tổ chức cung cấp dịch vụ ngoài. Để hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất thì người cung cấp dịch vụ là những tổ chức tự nguyện, uy tín. Và ngân hàng cần phải có sự kiểm tra thường xuyên để thay thế.
Cấp độ trao đổi thông tin (Communicative) Đây là một dạng của hệ thống internet banking cho phép tương tác giữa những hệ thống của ngân hàng và khách hàng. Sự tương tác này có thể bị giới hạn đối với hệ thống thư điện tử, truy vấn tài khoản, và vay vốn. Bởi vì những nhà cung cấp có sự liên quan (đường đi, hướng đi) đến hệ thống mạng lưới bên trong của ngân hàng. Vấn đề rủi ro là cao hơn so với cấp độ cung cấp thông tin.