CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ DÙNG VẬT LIỆU PHẾ THẢI CÔNG NGHIỆP LÀM PHỤ GIA BÊ TÔNG XI MĂNG 1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU BÊ TÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC Lịch sử phát triển của kết cấu bê tông gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người. Từ nửa thế kỉ XIX, nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản có những bước tiến nhảy vọt, nhu cầu xây dựng các nhà máy, đường sá, cầu cống. ngày càng lớn, do đó cần phải có một loại vật liệu xây dựng mới bền chắc, rẻ tiền để đáp ứng nhu cầu trên. Cũng trong thời kì này, ngành xi măng đã khá phát triển, nó tạo điều kiện thuận lợi cho một loại vật liệu mới ra đời, đó là bê tông xi măng.
Cuối năm 1848, một người pháp tên Lambot đã làm một chiếc thuyền bằng lưới sắt với hai mặt được trát vữa xi măng, chiếc thuyền này được triển lãm tại Pari năm 1855. Sau đó người ta chế tạo các bản sàn, cột, dầm, đường ống, bể chứa nước và các cấu kiện khác bằng bê tông xi măng. Vào năm 1875 Joseph Monier đã xây dựng cây cầu bê tông cốt thép đầu tiên dài 50ft (15,24m), rộng 13ft (3,96m). Sau đó, Francois Hennebique kỹ sư người Pháp đã phát triển mặt cắt ngang dầm dạng chữ T.
Ở thời kì sơ khai người ta làm theo cảm tính, không có các nguyên tắc tính toán và cốt thép thường được đặt ở vị trí trục trung hòa. Khoảng năm 1880, các nghiên cứu về cường độ của bê tông, bê tông cốt thép mới được bắt đầu ở Pháp và Đức. Vào năm 1886, một trong những người đầu tiên kiến nghị đặt cốt thép vào vùng chịu kéo và kiến nghị phuơng pháp tính toán cấu kiện bê tông là Keonen, một kĩ sư người Mĩ. Sau đó các qui phạm kĩ thuật đầu tiên về bê tông được ban hành ở nhiều nước như Pháp, Đức, Nga vào thập niên đầu tiên của thế kỉ XX.
Đầu thế kỉ XX, người ta mới bắt đầu xây dựng lý thuyết tính toán kết cấu bê tông cốt thép theo ứng suất cho phép (phương pháp cổ điển) dựa trên cơ sở các công thức tính toán ứng suất của môn Sức bền vật liệu. Đến năm 1928, Eugesne Freyssinet người Pháp nghiên cứu thành công dùng thép sợi cường độ cao căng trước lúc đổ bê tông và kết cấu bê tông cốt thép ứng lực trước bắt đầu đưa vào ứng dụng. Sau đó vào năm 1939, Giáo sư Loleit cùng với các cộng sự nghiên cứu tính không đồng nhất và đẳng hướng, tính biến dạng đàn hồi dẻo của bê tông và kiến nghị tính toán theo giai đoạn phá hoại. Đến năm 1955 ở Liên Xô cũ đã bắt đầu tính toán với phương pháp mới hơn có tên là tính theo trạng thái giới hạn.
Phương pháp HV: Hồ Văn Quân - Lớp CH Đường ô tô và Thành phố Khóa 16 5 Luận văn thạc sỹ kĩ thuật HDKH: GS.TS Phạm Duy Hữu đó ngày càng hoàn thiện và đang được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng để tính kết cấu bê tông cốt thép kể cả nước ta. Cho đến nay kết cấu bê tông đã chiếm một vị trí quan trọng trong các ngành xây dựng cơ bản và đã đạt được nhũng thành tựu hết sức to lớn. Người ta đã xây dựng cầu vòm có nhịp dài 260 m ở Thụy Điển, mái nhà có nhịp trên 200 m ở Pháp, hàng loạt chiếc cầu vượt Đại Dương cũng như các tòa nhà chọc trời ở khắp thế giới như: Tháp Burj Dubai (các tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất) cao 828m; Tòa nhà Taipei (Đài Loan) cao 509m; Trung tâm tài chính Thượng Hải (Trung Quốc) cao 494 m. Ở Việt Nam, kêt cấu bê tông cốt thép được du nhập vào dưới thời Pháp thuộc để làm cầu, cống và nhà dân dụng và công nghiệp, các công trình về bê tông thời kì đó hiện nay còn rất ít ỏi và đơn giản, chỉ từ khi Miền Bắc được giải phóng, các công trình bằng bê tông cốt thép đầu tiên được xây dựng ở Miền Bắc như: khu liên hợp gang thép Thái Nguyên (1960), nhà máy công cụ số 1 Hà Nội.
Sau đó nhiều công trình lớn lần lượt ra đời: nhà máy thủy điện Thác Bà (1964), cầu Thăng Long (1972). Bê tông cốt thép dự ứng lực được ứng dụng đầu tiên ở cầu Phú Lỗ (nhịp 18 m, xây dựng năm 1961). Trong thời kỳ chiến tranh chống Mĩ cứu nước, kết cấu bê tông cốt thép được dùng để xây dựng các công sự chiến đấu và hầm chống bom ở nhiều chiến trường. Cho đến nay bê tông xi măng là một loại vật liệu xây dựng chủ yếu ở nước ta trong tất cả các ngành xây dựng cơ bản như giao thông, thủy lợi, dân dụng và công nghiệp.
Việc nghiên cứu bê tông xi măng đang được đẩy mạnh, đặc biệt là ở các trường Đại học và các Viện khoa học kĩ thuật. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHỤ GIA KHOÁNG TỪ PHỤ PHẨM CÔNG NGHIỆP TRONG BÊ TÔNG XI MĂNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 1.1 Khái niệm về các phụ gia khoáng Phụ gia khoáng là các vật liệu vô cơ có nguồn gốc từ thiên nhiên hoặc nhân tạo, có chứa SiO2 hoặc Al2O3 ở dạng hoạt tính. Bản thân các vật liệu này không có hoặc có rất ít tính dính kết, nhưng khi được nghiền mịn và ở điều kiện ẩm sẽ tác dụng hóa học với vôi và có tính chất kết dính. Khi thủy hóa sẽ tạo thành silicat canxi ngậm nước.
HV: Hồ Văn Quân - Lớp CH Đường ô tô và Thành phố Khóa 16 6 Luận văn thạc sỹ kĩ thuật HDKH: GS.TS Phạm Duy Hữu Các phụ gia khoáng thường gặp là tro núi lửa (puzơlan), đá bọt opal, điatomit, sét nung, tro bay, xỉ lò cao và muội silic. Ba chất cuối là các khoáng nhân tạo được dùng phổ biến để làm phụ gia cho bê tông hiện nay. Những loại puzơlan tốt nhất được trộn với xi măng với tỉ lệ tối ưu sẽ cải thiện rất nhiều các phẩm chất của bê tông như: - Hạ thấp lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình hyđrát hóa và giảm co ngót do nhiệt. - Giảm phản ứng hóa học với cốt liệu kiềm.
- Tăng độ bền sunfat với nước biển. - Cải thiện được tính dãn nở. - Giảm nguy cơ hòa tan và bị khử. - Tăng tính công tác cho bê tông tươi.
- Giảm được giá thành xây dựng. Ngoài những ưu điểm trên, trái với sự ngộ nhận của nhiều người, những puzơlan tốt sẽ không làm tăng lượng nước yêu cầu và độ co ngót khi khô. Vật liệu puzơlan và vật liệu silic hay vật liệu silic kết hợp với vật liệu chứa nhôm mà bản thân trong chúng có rất ít hoặc không có đăc tính xi măng. Khi được nghiền mịn và kết hợp với hơi ẩm thì chúng sẽ phản ứng hóa học với Ca(OH)2 được giải phóng ra trong quá trình hyđrát hóa ở nhiệt độ thường để tạo ra hợp chất có các đặc tính như xi măng.
Qua quá trình hyđrát hóa canxi silicat (C3S) và đicanxi silicat (C2S) thì Ca(OH)2 được tạo thành như một sản phẩm của quá trình hyđrát hóa. Loại hợp chất này không có các đặc tính kết dính, tan trong nước và có thể bị rửa trôi bởi sự thấm lọc nước. Các hợp chất silic hay nhôm tồn tại dưới dạng hạt rời mịn sẽ phản ứng với Ca(OH)2 sẽ tạo thành chất kết dính xi măng ổn định cao có hỗn hợp gồm các thành phần như nước, canxi, silic. Nói tóm lại, silic vô định hình phản ứng nhanh hơn silic dạng tinh thể.
Người ta đã chỉ ra rằng Ca(OH)2 còn là một vật liệu hòa tan trong nước được chuyển thành vật liệu xi măng không tan trong nước bằng cách sử dụng vật liệu puzơlan. Các loại vật liệu puzơlan được chia làm hai nhóm:puzơlan tự nhiên và puzơlan nhân tạo. * Puzơlan tự nhiên gồm: - Đất sét và đá phiến. HV: Hồ Văn Quân - Lớp CH Đường ô tô và Thành phố Khóa 16 7 Luận văn thạc sỹ kĩ thuật HDKH: GS.TS Phạm Duy Hữu - Đá phiến opan.
- Tro núi lửa và bọt đá núi lửa. * Puzơlan nhân tạo: - Tro bay. Đối với đất sét và đá phiến đòi hỏi phải nung nóng ở nhiệt độ từ 4250C - 11000C để biến chúng thành puzơlan hoạt động. Hiếm khi đất sét và đá phiến không nung lại có những phản ứng như puzơlan.
Với tro núi lửa và bọt núi lửa thường ở trạng thái tự nhiên cũng thể hiện được các đặc tính như puzơlan. Nói chung, hầu hết các vật liệu puzơlan thiên nhiên cần phải được nghiền nhỏ đến độ mịn cao để làm cho chúng phù hợp khi sử dụng với xi măng trong bê tông, ngoại trừ bọt đá núi lửa thường xuyên tồn tại ở dạng rời rạc mịn. * Theo tiêu chuẩn Mĩ (ASTM C - 618) có các loại phụ gia khoáng như sau: - Loại N: puzơlan tự nhiên hoặc nung như: điatomit, opal, sét, tro núi lửa và bọt đá núi lửa. - Loại F: tro bay thu được do đốt than antraxit hoặc than bitum.
- Loại C: tro bay thu được do đốt than nâu, hàm lượng canxi oxit (CaO) trong than trên 10%. * Xét về thành phần hóa học, có thể tham khảo tiêu chuẩn Ấn Độ 1344 - 1968, trong đó yêu cầu rằng puzơlan phải tuân thủ các yêu cầu về hóa học như bảng 1.1 sau đây: Bảng 1.1 Các thành phần hóa học của tro bay Các thành phần Hàm lượng Oxit silic + oxit nhôm + oxit sắt (SiO2 + Al2O3 + Fe2O3) Không dưới 70% Oxit silic (SiO3) Không dưới 40% Oxit canxi (CaO) Không lớn hơn 10% Oxit magiê (MgO) Không lớn hơn 3% Sunfuaric anhyđrit (SO3) Không lớn hơn 3% Sô đa và oxit kali (Na2O; K2O) Không lớn hơn 3% Kiềm tan trong nước Không lớn hơn 0,1% Độ mất mát nhiệt Không lớn hơn 5% HV: Hồ Văn Quân - Lớp CH Đường ô tô và Thành phố Khóa 16 8 Luận văn thạc sỹ kĩ thuật HDKH: GS.TS Phạm Duy Hữu * Các yêu cầu về vật lý gồm có: tỉ diện tích bề mặt không nhỏ hơn 3200 cm2/g, cường độ nén trung bình khi thí nghiệm ít nhất ba mẫu hình lập phương không được nhỏ hơn ít nhất 80% cường độ của mẫu hình lập phương tương đương đúc vữa xi măng không phụ gia ở tuổi 28 ngày. Hơn nữa, cường độ của mẫu lập phương phải bằng cường độ của mẫu vữa xi măng nguyên chất hình lập phương ở độ tuổi 90 ngày [10].2 Các loại phụ gia khoáng từ phụ phẩm công nghiệp 1.1 Tro bay Tro bay hay tro nhiên liệu cháy được nghiền mịn là một puzơlan nhân tạo lấy từ chất lắng đọng trong qua trình cháy của than nghiền. Nó được thu lượm bằng máy tách cơ khí hay máy tách tĩnh điện từ ống khói của các nhà máy nhiệt điện mà sử dụng than nghiền làm nhiên liệu.