CHƯƠNG I: TONG QUAN VỀ TINH HÌNH SAT LO BO SÔNG HÔNG VA CÁC GIẢI PHAP PHONG CHONG SAT LO. CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU HIỆN TRANG SAT LO BO SÔNG HONG DOAN BO TẢ KHU VUC BAT TRANG THÀNH PHO HA NOL 'CHƯƠNG IIL GIẢI PHÁP CÔNG TRINH UNG DỰNG CONG NGHỆ MỚI CHONG SAT LG BO SÔNG SAT CHAN ĐÊ DOAN BO TẢ KHU VỰC BAT TRANG THÀNH PHO HÀ NỘI. CHUONG I: TONG QUAN VE CÁC GIẢI PHA 1. Tổng quan về hệ thống sông Hồng 1-1-1 Vị trí địa lý: Hệ thống sông Hồng — sông Thái Bình nằm trong phạm vi tọa độ địa lý từ 2000 đến 25°30 độ vĩ bắc, 10000 đến 10710 độ kinh đông, phía Bắc giáp hệ thống sông Trường Giang, phía Tây giáp hệ thống sông Mê Kông, phía Đông Bắc.
giáp hệ thống sông Tả Giang, phía Nam giáp hệ thống sông Mã và phía Đông là vịnh Bắc Bộ. G lãnh thỏ Việt Nam, hệ thống sông Hồng- sông Thái Bình nằm trong phạm vi tọa độ địa lý: 10210 đến 10710 độ kinh đông, 2000 đến2326 độ vĩ bắc với điện ch lưu vục $7880km (chim 51,60% diện tch lưu vực toàn hệ thing). Các sông suối trong hệ thống sông Hồng ~ sông Thái Bình chảy qua 23 tinh, thành phố ở Bic Bộ, 1.2 Địu hình xuống Đông Nam vi từ Bắc xuống Nam. Địa hình của lưu vực có thể chia kim bến miễn lớn: Mi ‘Tay Bắc (65.000 km”), miễn cao nguyên phía Bắc (24.230 km2), miễn núi thấp ở phần dưới lưu vực sông Hồng và phần trên của lưu vực sông Thái Bình (39 000km), miễn đồng bing tam giấc châu lưu vực sông Hỗng và sông Thái Binh (21.
Địa thể chung của hệ thống sông Hồng rit lễm tra, có đến 47 1 độ cao trên 1000m, phần lớn nằm ở phía Tây của lưu vực thuộc hai nhánh lớn sông Đã và sông ản một phần nằm trên cao nguyên phía Bắc thuộc sông Lô. Phin đất bằng bổ nhỏ lẻ đọc thung lũng củacác sông lớn, song phần chủyếu tập trungở tam giác châu sông Hang - sông Thái Bình. Do phần lớn điện tích là miễn núi địa hình đốc nên dễ gây sat lỡ, tập rung li nhanh trong mia mưa bão, Sông Hồng với nguồn phủ sa lớn (100 triệu tỉn năm), qua hàng ngàn năm đã bồi tụ nên mặt bằng của tam giác châu hiện nay. Hàng năm khỉ nước là trần bãi sông Hồng mang phi sa vào sâu các ving rồng hai bin, song ngay sau khi trấn tốc độ giảm rõ rit tạo mức lắng đọng gần bờ sông rit lớn, xa bờ giảm din hình thành thể dia dbe từ hai bờ đến ria phía Bắc và phía Nam của đồng bing Bác Bộ, ạo thành thé tiêu nước từ sông Hồng sang các sông Cau, Thái Bình ở phia Bắc và sông Day & phía Nam, Bảng 1-1: Diện tích theo cao độ của vùng BB sông Hang - sông Thái Bình Cao độ (m) Điện tích (ha) | Cộng dồn (ha) Tỷ lệ % Nhỏ hơn 1 233298 233298 29.3 Địa chất Ving núi cao trong hệ thống sông Hồng ~ sông Thái Binh được cầu tạo bởi các loại đá như granit, da phiến, sa điệp thạch, phiến thạch, sa thạch, cát kết, cuội kết và đã vôi Đồng bằng sông Hồng, từ góc độ địa chat là đơn vị kiến tạo, một trăng dạng địa hào, một bén tích tụ trim tích Kainozoi.
Phân bổ dit đá có tuổi từ Proterozoi én hiện đại, bao gồm các thành tạo biến chất, mắc ma và trim tích. Các thành tạo biển chất thuộc loại hệ sông Hồng có tuổi Proterozoi (PR, sh), phân bổ dưới dạng núi sót ở đông nam thị xã Sơn Tây, ở huyện Bình Lục (Hà Nam), ở núi Goi, huyện Ý Yén (Nam Dinh), Các thành tạo biển chất phân bé 6 huyện Chí Linh (Hải Duong) với một diện tích nhỏ thuộc hệ tng Tin Mai có tuổi Oedovie ~ silua (D-S tm), “Các thành tạo trim tích lục nguyên — các bon nit phân bổ với một diện tích. nhỏ thuộc hệ ting Xuân Sơn có tuổi Silua ~ Devon (S; ~ Dạ x9) Dit da cát kết dạng quaczit thuộc hệ ting Dưỡng Động, tuổi Devon sớm — giữa (Dị; dd), phân bé chủ yếu ở Tring Kênh, Niệm Sơn, Dưỡng Động, thuộc Hải Phòng Đất đá hệ ting Đồ Sơn, tuổi Devon sớm (Dim ds) phân bố ở Đồ Sơn, Choi Mông, Ba Di, Bến Tàu thuộc Hai Phòng. Dat đá chủ yếu cát kết màu xám vàng.
vôi dạng trứng cá kết tinh lộ ra ở bắc Thủy Nguyên (Hải Phòng) thuộc hệ ting Lỗ. Sơn, có tuổi Devon giữa (D; Is). Hệ tầng Cát Bà có tuổi cacbon sớm (¢, eb) với thành phần trim tích khá đồng. nhất gồm đá vôi phân lớp mỏng đến day, màu đen.
Phân bồ chủ yếu ở đảo Cát Bi, bắc Thủy Nguyên và tây núi Voi (Kién An), Đá vôi màu xám sang phân bố ở bắc và tây bắc Gia Luận, Phủ Long, bắc núi But, génh Vấn. thuộc hệ tang lưỡng kỳ (Dovjicov.E-1965) hoặc hệ ting Quang. Hanh có tuổi cacbon-Pecmi (C-PIk). Đã Porphyrit bajan đôi nơi gặp din kết, cui, kết vôi lộ m ở tay nam huyện Ba Vi (Hà Tây) thuộc hệ ting Cảm Thủy, tuổi Pacmi muộn (Pt) Đá phiến sét, bột kết tinh với các thấu kính đá vôi, phân bổ ở Ba Vì (Hà Tây), Kim Bảng (Hà Nam), Nho Quan (Ninh Bình) thuộc hệ ting Cd Noi (T;en).
Đá vôi xám sim phân lớp mỏng, đá vôi xám sang dạng khối phân bổ ở khu di tích Chia Hương (Hà Tây), Kim Bảng (Hả Nam), Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lu, Yen Mô (Ninh Bình) thuộc hệ ting Đồng Giao có tuổi Trias giữa (T24g). Đắt đã có ti Trias giữa phân bổ ở Chi Linh, Kính Môn (Hải Dương), Sóc Sơn (Ha Nội) thuộc hệ ting Nà Khuất (Tonk). Tại Chi Linh (Hải Dương) có một điện tích nhỏ phân bố ryolit, cát kết tuf xen đá phiển sét được giả định xếp vào hệ ting Sông Hiển có tuổi Tris giữa (Tash) Đá sạn kết, cát kết, hàng chục vi than, đá phân bố ở Chí Linh (Hải Dương) thuộc ting Hòn Gai, có tuổi Triat muộn (Tshg). Trong khi đó đá cát kết dang quanzit, bột kết mau đỏ cũng phân bố với một điện tích nhỏ ở Chí Linh (Hải Dương) lại thuộc hệ ting Mẫu Sơn (Ts).
Đá sét vôi, bột kết chứa các thấu kính đá vôi phân bổ ở Ba Vì (Hà Tây) thuộc hệ ting Nậm Thảm, tudi Trias giữa - muộn (T:. Đá cát kết tủa, phun trio, sét vôi phân bổ ven ria tây, tây nam vùng đồng bằng thuộc hệ ting Mường Trại tuổi Trias giữa ~ muộn. Đá cát kết, bột kết, cuội kết phân bồ thành một dai theo hướng tây bắc - đông nam ở khu vực Trung Hà ~ Suối Hai (Hà Tây) thuộc hệ ting Nà Dương có tuổi Neogen (Nad), “Các thành tạo mắc ma phân bổ chủ yêu ở day núi Ba Vi (Hà Tây) thuộc phía hệ ting Ba Vi có tuổi Paleozoi muộn (d'bv). ‘Nhu vậy, đắt đá có tuổi trước Đệ Tứ phân bổ chủ yếu ven ria Đồng bằng sông.
Các thành tao trim tích bở rời có tuổi Đệ tứ phủ khắp đồng bằng sông Hồng. Ving ven ria gặp các thành tạo hạt thô như cuội, sạn thuộc hệ ting Hà Nội, có tuổi pleistocen giữa muộn (aQIT ~ II) nguồn gốc trim tích sông. Vùng Sóc Sơn, Đông Anh (Hà Nội), Chí Linh (Hải Dương), Gia Viễn (Ninh Bình) gặp các thành tạo cát, bột, sét có. màu vàng loang 16, có tuổi pleistocen muộn, nguồn gốc sông hoặc biển.
Những thành tạo Pleistocen phân bổ vùng ven ria, còn đại bộ phận diện tích Đồng bing sông Hồng phủ các thành tạo trim tích có tuổi Holocen sớm — giữa hoặc Holocen giữa muộn (QIV'? và QIV°`), Khoáng sản vùng Đồng bằng sông Hồng gặp chủ yếu các loại khoáng sản cháy (năng lượng) như than, than nâu và than bùn, kim loại đen như sắt, kim loại màu. như đồng, vàng, bô xi, thủy ngân, vật liệu xây dựng như sết xi mang, cát xây dựng, đá vôi xi mang, phi kim loại như cao lanh sét, asbet, pyrite, photphorit, phophát Ngoài ra vùng đồng bằng sông Hồng còn là một bồn tring chứa dẫu khí. Các loại khoáng sản ở vùng đồng bằng sông Hồng không lớn về trừ lượng, thực chất chỉ là ác điểm quặng, trừ vật liệu xây dựng. Ving Ding bằng sông Hỗng với sự cố mặt của hệ thống đút động trong Kainozoi và quả tình dja động lực hiệ đại đã đ lại hoặc côn tiếp diễn ce quá tình hình thành khe nứt hiến đại.
Các quá trình ngoại sinh cũng gây ra những tai biển như xối lỡ bờ sông, bi bin, hiện tượng đất lún, ~ Dit Grant phát triển trên các loại đá khác nhau (granit, sa thach, cội kết, đã phiến thạch sét, phiến thạch mica, đã vôi, phủ sa cổ, .) với các mẫu sắc khác nhau như ving nhạt, vàng, đó, đỏ vàng, nâu đô, Ving ding bằng châu thổ sông Hồng bình thảnh do phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bai dip. Dắt trong hệ thống sông được phát tr: trên các loại dé mẹ khác nhau, gồm những loi đắt chính như sau: ~ Dat mùn trên núi cao; ~ Dat bồi tụ; ~ Dt phù sa sông, suối và đất cát ven biển; ~ Đất lẫy thụt Lat cắt địa chất theo hướng Tây Nam — Đông Bắc và cột địa ting tổng hợp trim tích đệ tứ.4 Khí hậu Khí hu rong hệ thống sông Hằng ~ sông Thai Bình phn lãnh thổ Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do tác động của dia hình nên các yếu tổ khí hậu biển đổi mạnh m theo không gian và thời gian Nhiệt độ: SỐ giờ nắng trung bình biến đổi trong phạm vi từ dưới 1400 giờ ở vùng núi cao dn hơn 2000 giờ ở các thung lũng trong lưu vực sông Da. "Nhiệt độ không khi trung bình năm cũng có xu thé giảm dẫn theo sự gia tăng đội ‘cao của địa hình. Nhiệt độ không khí trung bình năm giảm xuống dưới 150C ở vùng núi cao và tăng lên tới 20 - 240C ở vùng trung du và đồng bằng.
"Nhiệt độ không khí cũng biển đổi theo mùa. Trong thời kỳ gió mùa hạ, nhiệt độ không khí trung bình tháng khoảng 15 - 20°C ở vùng núi, 20 - 30°C ở vùng trung du. và đồng bằng. Trong thời kỳ gió mia đông, nhiệt độ không khí trung bình tháng khoáng 10 - 15°C ở vùng trung du va đồng bằng.
Độ ẩm; ‘DG Am tương đối của không khi trung bình năm khoảng 80 - 85% và biển đổi không lớn theo lưu vực. Tuy nhiên độ ẩm không khí lại biến động lớn theo mùa, tương đối cao trong mùa mưa và thấp trong mùa khô. Gió bão Tốc độ gió trung bình năm biển đổi trong phạm vi rộng từ dưới Im/s ở các thung lũng, sườn núi khuất gió đến 3 - 4m/s ở đồng bằng ven biển và trên 4 mis 6 các vùng núi cao như Hoàng Liên Sơn.