Đặt vấn đề Cây đậu tương, hay đỗ tương, đậu nành (tên khoa học Glycine max(L)), là loại cây họ Đậu (Fabaceae), là loại cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế cao, là loại cây dễ trồng thời gian sinh trưởng, phát triển ngắn. Sản phẩm của cây đậu tương được sử dụng làm thức ăn cho con người và vật nuôi. Hạt đậu tương chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng, trong đó có protein chiếm 38- 40%, Lipit từ 18-20%, hydratcacbon từ 15-16% và các loại amino acid cần thiết (isoleucin, lysin, metionin, pheny lalanin, tryptophan, valin) và nhiều sinh tố, khoáng chất, Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S, các vitamin A, B1, B2, D, E, F, các enzyme, sáp, nhựa, cellulose. Vì vậy hạt đậu tương được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hay chế biến thành các loại như bánh kẹo, sữa đậu nành, đậu phụ, nước tương, đầu đậu nành.
và được chế biến thành nhiều loại thức ăn chăn nuôi khác nhau. Ngoài ra đậu tương còn có khả năng cố định Nitơ tự do nhờ vi khuẩn cố định đạm sống trong nốt sần ở rễ. Từ đó cung cấp được một hàm lượng Nitơ lớn cho đất, giúp cải tạo đất trồng. Từ năm 2000 đến nay diện tích trồng cây đậu tương ở Thái Nguyên giảm mạnh (từ 3.368 ha năm 2000 xuống chỉ còn gần 1.
Trên thị trường có rất nhiều loại phân bón hữu cơ vi sinh khác nhau vì vậy chúng ta cần nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón hữa cơ sinh học đến khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của đậu tương đối với vùng sản xuất nhất định để chọn ra loại phân bón cho đậu tương đạt được năng suất cao nhất. Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ sinh học đến khả năng sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu - Nhằm tìm ra được loại phân bón hữu cơ sinh học dùng bón lót có ảnh hưởng tốt nhất đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu 2016 tại Phú Lương, Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được loại phân bón hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên - Xác định được loại phân hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên - Xác định được loại phân hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến khả năng chống chịu của giống đậu ĐT51 vụ Hè Thu tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên - Xác định được loại phân hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 1.Ý nghĩa khoa học và ý thực tiễn của đề tài: 1.Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và học tập.Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài là cơ sở để xác định các biện pháp bón phân hữu cơ sinh học cũng như kỹ thuật phù hợp cho cây đậu tương ĐT51 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học Đậu tương được đánh giá là cây có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao. Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung bình khoảng từ 38-40%, lipit từ 18-20%, giàu nguồn sinh tố và muối khoáng. Hàm lượng axit amin có chứa lưu huỳnh như methionin, sistein, sixtin. của đỗ tương rất gần với hàm lượng của các chất này của trứng.
Hàm lượng của cazein, đặc biệt là của lizin rất cao, gần gấp rưỡi trứng. Protein của đậu tương dễ tiêu hóa hơn thịt và không có thành phần tạo thành cholesteron [12]. Nước ta là một nước nông nghiệp, có đến 70% dân số lao động trong lĩnh vực này. Vì vậy nhà nước ta rất chú trọng đến phát triển về nông nghiệp.
Bộ NN&PTNT đã chỉ ra nhưng cây trồng mạng lại hiệu quả kinh tế cao như: Ngô, lúa, đậu tương. Cây đậu tương có khả năng tích lũy đạm trong không khí để sử dụng và làm giàu đạm cho đất nhờ vào sự cộng sinh vi khuẩn Rhizobium Japonicum ở bộ dễ. Trong điều kiện thuận lợi, các vi khuẩn nốt sần này có thể tích lũy được một lượng đạm tương đương từ 20 – 25 kg urê/ha. Vì vậy đậu tương có tác dụng cải tạo đất rất tốt.
Mặt khác, đậu tương lấy đi từ đất chất dinh dưỡng không nhiều [13]. Để cây đâu tương đạt được năng suất tốt nhất thì cần có các biện pháp kỹ thuật, canh tác phù hợp với điều kiện đất đai của từng vùng. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tƣơng trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương giữ vai trò quan trọng trong các cây lấy dầu của thế giới, tiếp sau là lạc, hướng dương.
Trong toàn bộ sản lượng cây lấy dầu của thế giới, sản lượng cây đậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% năm 1980. c 4 Ngược lại sản lượng cây của cây lạc lại giảm từ 18% xuống còn 11% trong cùng thời kỳ (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [5]. Ngày nay, đậu tương đã và đang được coi là cây trồng quan trọng trên thế giới. Điều này dễ hiểu vì cây đậu tương là cây thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao, có thể chế biến được nhiều loại thực phẩm cho con người và thức ăn chăn nuôi.
Có khả năng cải tạo đất trồng. Vì vậy diện tích, năng suất vả sản lượng của đậu tương liên tục được tăng lên thể hiện qua bảng 2. Về diện tích: Năm 2010 thế giới trồng 102,79 triệu ha thì diện tích trồng đậu tương thế giới năm 2014 đã tăng lên 117,72 triệu ha, tăng 14,93 triệu ha. Về năng suất: Năm 2010 năng suất đậu tương thế giới là 24,78 tạ/ha thì năng suất đậu tương thế giới năm 2014 đã tăng lên 26,2 tạ/ha, tăng 0,42 tạ/ha.
Về sản lượng: Cùng với sự tăng lên về mặt diện tích và năng suất thì sản lượng đậu tương cũng được tăng lên 1 các nhanh chóng. Năm 2010 sản lượng đậu tương thế giới là 264,91 triệu tấn thì sản lượng đậu tương thế giới năm 2014 đã tăng lên 43,53 triệu tấn.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 102,79 25,78 264,91 2011 103,82 25,20 261,60 2012 105,37 22,93 241,58 2013 111,63 24,91 278,09 2014 117,72 26,20 308,44 (Nguồn: FAOSTAT Browse Data,2017) [27] c 5 Hình 1. Diện tích, năng suất, sản lƣợng đậu tƣơng trên thế giới Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu quan trọng hàng của thế giới: Đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ dầu. Vì vậy đậu tương được trồng ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên 4 nước sản xuất đậu tương lớn nhất trên thế giới là Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc.
Chiếm khoảng 90-95% tổng sản lượng đậu tương thế giới. Thể hiện qua bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương ở 4 quốc gia đứng đầu thế giới Năm 2013 Năm 2014 Diện Sản Sản Năng Diện tích Năng tích lƣợng lƣợng suất (triệu suất Tên nƣớc (triệu (triệu (triệu (tạ/ha) ha) (tạ/ha) ha) tấn) tấn) Mỹ 85,79 28,34 243,09 91,86 29,53 271,21 Brazil 27,91 29,29 81,72 30,27 28,99 86,76 Argentina 19,42 25,39 49,31 19,25 27,74 53,4 Trung quốc 6,79 17,6 11,95 6,73 18,13 12,2 (Nguồn: FAOSTAT Browse Data,2017) [27] c 6 Mỹ là nước sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu đậu tương lớn nhất thế giới. Năm 2013 diện tích đậu tương của Mỹ đạt 85,79 triệu ha, năng suất đạt 28,34 tạ/ha, sản lượng đạt 243,09 triệu tấn. Năm 2014 diện tích đậu tương của Mỹ đạt 91,86 triệu ha, tăng 6,07 triệu ha so với năm 2013; sản lượng đạt 29,53 tạ/ha, tăng 1,19 tạ/ha so với năm 2013; sản lượng đạt 271,21 triệu tấn, tăng 28,12 triệu tấn so với năm 2013.
Mỹ là nước xuất khẩu đậu tương sang EU, Nhật Bản, Tây Ban Nha. Sau Mỹ thì Brazil là nước sản xuất đậu tương lớn thứ 2 thế giới. Năm 2013 diện tích đậu tương của Brazil đạt 27,91 triệu ha, năng suất đạt 29,29 tạ/ha, sản lượng đạt 81,72 triệu tấn. Năm 2014 diện tích đậu tương của Brazil đạt 30,27 triệu ha, tăng 2,36 triệu ha so với năm 2013; sản lượng đạt 28,99 tạ/ha, giảm nhẹ so với năm 2013; sản lượng đạt 86,76 triệu tấn, tăng 5,04 triệu tấn so với năm 2013.
Đứng thứ 3 về sản xuất đậu tương là Argentina. Năm 2013 diện tích đậu tương của Argentina đạt 19,42 triệu ha, năng suất đạt 25,39 tạ/ha, sản lượng đạt 49,31 triệu tấn. Năm 2014 diện tích đậu tương của Argentina đạt 19,25 triệu ha, giảm nhẹ so với năm 2013; sản lượng đạt 27,74 tạ/ha, tăng 2,35 tạ/ha so với năm 2013; sản lượng đạt 53,4 triệu tấn, tăng 4,09 triệu tấn so với năm 2013. Tại Châu Á, Trung Quốc đứng đầu Châu Á và đứng thứ 4 thế giới về sản xuất đậu tương.
Năm 2013 diện tích đậu tương của Trung Quốc đạt 6,79 triệu ha, năng suất đạt 17,76 tạ/ha, sản lượng đạt 11,95 triệu tấn. Năm 2014 diện tích đậu tương của Trung Quốc đạt 6,73 triệu ha, giảm nhẹ so với năm 2013; sản lượng đạt 18,13 tạ/ha, tăng 0,53 tạ/ha so với năm 2013; sản lượng đạt 12,2 triệu tấn, tăng nhẹ so với năm 2013. Ngoài 4 nước nói trên thì Pháp, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản cũng là những nước sản xuất đậu tương lâu đời. Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới Hiện nay công tác nghiên cứu về giống đậu tương trên thế giới đã được tiến hành với quy mô lớn.
Nhiều tổ chức, tập đoàn về giống đậu tương đã khảo nghiệm ở rất nhiều vùng khác nhau nhằm mục đính: Thử nghiệm tính thích nghi của giống đậu tương ở từng điều kiện, môi trường khác nhau để so sánh giống địa phương với giống nhập nội, đánh giá sự sinh trưởng, năng suất của các giống đậu tương đối với các điều kiện môi trường khác nhau. Các tổ chức đang nghiên cứu về cây đậu tương như: Trung tâm nghiên cứu và đào tạo nông nghiệp cho vùng Đông Nam Á (The Southeast Asian Regional Center for Graduate Studyan Reserach in Agricuture – SEARCA); Viện nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới (The International Institute of Tropical Agriculture – IITA); Chương trình nghiên cứu cây thực phẩm của các nước Trung Mỹ (PPCCMA); Trung tâm nghiên cứu và phát triên rau màu Châu Á (The asian Research and Development Center – AVRDC); Chương trình đậu tương quốc tế INTSOY và ISVEX.