Đặt vấn đề Keo lá tràm có tên khoa học đầy đủ là Acacia auriculiformis A. Cây thuộc nhóm mọc nhanh, tốc độ sinh trưởng cao trong vài năm đầu, là loài cây gỗ nhỡ, chiều cao có thể cao tới 25 - 30m, đường kính có thể tới 60cm. Thân tròn thẳng, tán rộng và phân cành thấp, cành thường phân nhánh đôi, cành nhỏ, tự tỉa cành tốt, dễ trồng bằng hạt, sống lâu, cố định đạm, vỏ dầy màu nâu đen, có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất, kể cả đất nghèo kiệt, thoát nước kém là loài có biên độ sinh thái rộng, có thể mọc được ở những nơi đất có độ pH thấp, nghèo dinh dưỡng, có khả năng cạnh tranh với nhiều loài cỏ dại, ít sâu bệnh,… có giá trị kinh tế cao như làm trụ mỏ, bột giấy (giấy gói), ván dăm, sản phẩm cấu trúc, thân cành làm củi tốt do nhiệt lượng của than cao. Trong lâm sinh dùng làm cây trồng phù trợ cải tạo đất, che bóng.
Rễ Keo có nhiều nốt sần cố định đạm nên Keo lá tràm có khả năng cải tạo đất tốt. Hiện tại, với tình hình chung của thế giới là sự nóng lên toàn cầu, thế giới đang phải chịu rất nhiều ảnh hưởng của các thiên tai do khí hậu. Trái đất đang thay đổi một cách chóng mặt, nguyên nhân cũng chính là do sự nóng lên của trái đất. Để giảm bớt sự nóng lên của trái đất thì cách hữu hiệu nhất vẫn là tích cực tăng thêm diện tích che phủ của rừng trên bề mặt bằng cách trồng rừng che phủ đất.
Và hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang tích cực trong vấn đề này. Việt Nam cũng là một trong những nước dễ bị thiên tai và đặc biệt hơn hết là bị ảnh hưởng bởi hàng loạt các rủi ro liên quan đến khí hậu cho nên những biện pháp để làm thay đổi những biến đổi khí hậu với nhiều dự án phủ xanh đồi trọc được đưa ra và triển khai trên nhiều vùng miền đất nước là vô cùng cần thiết. Vì Keo là loài thích nghi tốt và biên độ sinh thái rộng nên nó được đa số quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam đưa vào là cây trồng chính để tăng diện tích rừng. 2 Hiện nay các nghiên cứu về Keo lá tràm nói riêng và Keo nói chung chủ yếu tập trung vào các yếu tố sinh trưởng (đường kính, chiều cao) hoặc khả năng chống chịu các sâu bệnh.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tốc độ sinh trưởng không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với chất lượng gỗ thậm chí còn tỷ lệ nghịch. Do đó việc nghiên cứu chất lượng gỗ Keo lá tràm là hết sức cần thiết để chỉ ra ưu điểm chất lượng gỗ (tính chất giải phẫu, chiều dài sợi, mạch gỗ, …), tính chất vật lý (khối lượng thể tích, độ co rút, giãn nở, …), tính chất cơ học (Độ bền uốn tĩnh, mô đun đàn hồi uốn tĩnh, …) của từng nguồn giống, từ đó xác định được nguồn giống phù hợp cho từng mục đích sản xuất, góp phần tối ưu hóa sản xuất, nâng cao chất lượng gỗ rừng trồng. Hiện Keo lá tràm đã được gây trồng trên nhiều vùng sinh thái của cả nước như vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ…Kết quả gây trồng bước đầu thu được đã có rất nhiều triển vọng. Thực tế hiện nay cho thấy, bên cạnh khâu trồng, nuôi dưỡng và chăm sóc rừng thì khâu chọn giống cũng hết sức quan trọng, nếu khâu chọn giống cây không tốt, không phù hợp với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của từng vùng, không phù hợp với mục đích mong muốn của người trồng thì không thể đạt được năng suất, chất lượng tốt và không đạt được mục đích kinh doanh mong muốn.
Ngoài ra, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, gỗ Keo lá tràm có một số tính chất đặc biệt là nhóm tính chất cơ học cao hơn so với một số loài Keo khác. Do đó Keo lá tràm có tiềm năng để phát triển trồng rừng cho mục đích lấy gỗ để sản xuất các sản phẩm trong lĩnh vực nội thất và xây dựng. Do đó cần có những nghiên cứu chọn giống Keo lá tràm không chỉ tập chung vào các tính chất sinh trưởng (đường kính lớn, cây cao, thân thẳng, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, .) mà còn cần có những nghiên cứu tập chung vào các tính chất gỗ, vì chất lượng gỗ mới là mục đích mong muốn cuối cùng của trồng rừng. Quảng Trị là một trong những tỉnh có điều kiện tự nhiên, điều kiện sinh trưởng phù hợp với cây Keo lá tràm.
Điều kiện thổ nhưỡng khí hậu nắng nóng 3 thì việc trồng Keo lá tràm phù hợp với địa bàn này. Hiện nay có nhiều giống Keo lá tràm được trồng ở nơi đây, tuy nhiên cho đến nay có rất ít các nghiên cứu đánh giá được chất lượng của các nguồn giống hoặc dòng Keo lá tràm từ đó làm cơ sở để chọn lọc và nhân giống các dòng Keo lá tràm tốt nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người trồng tại Quảng Trị. Việc nghiên cứu và đưa vào trồng những dòng Keo lá tràm thích hợp với điều kiện tự nhiên của vùng đồng thời cho năng suất chất lượng gỗ tốt để trồng rộng rãi thành những vùng nguyên liệu rộng lớn cũng như để phủ xanh đất trống đồi trọc, duy trì tác dụng của rừng đối với đời sống con người nơi đây là hết sức cần thiết. Từ thực tế trên tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn giống đến chất lượng gỗ Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) trồng tại Đông Hà, Quảng Trị” nhằm nghiên cứu và đánh giá ảnh hưởng của nguồn giống (trong nghiên cứu này là các dòng Keo lá tràm) tới chất lượng của gỗ và đề xuất những dòng có tính chất vượt trội cho mục đích nhân giống và sản xuất.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Đánh giá được sự biến đổi khối lượng thể tích (KLTT) bên trong và giữa các dòng Keo lá tràm. - Đánh giá được sự biến đổi các tính chất cơ học (độ bền uốn tĩnh _ MOR và mô đun đàn hồi uốn tĩnh - MOE) bên trong và giữa các dòng Keo lá tràm. - Xây dựng được mối liên hệ giữa khối lượng thể tích và các tính chất cơ học trong mỗi dòng và khi kết hợp các dòng Keo lá tràm. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa học tập - Áp dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn và học hỏi thêm được những kiến thức bổ ích từ bên ngoài trường. - Rèn luyện về kỹ năng cần thiết, tiếp thu và học hỏi những kinh 4 nghiệm từ thực tế. - Củng cố kiến thức cơ sở và chuyên ngành cho bản thân phục vụ cho công việc nhằm tích lũy những kinh nghiệm cho công việc khi đi làm. Ý nghĩa khoa học - Tạo điều kiện cho học viên làm việc với thực tế công tác trong nghiên cứu khoa học.
- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học cho nghiên cứu chuyên sâu về loài cây Keo lá tràm. - Là cơ sở khoa học để lựa chọn nguồn giống Keo lá tràm tối ưu nhất cho trồng rừng. Ý nghĩa thực tiễn - Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực và chính xác. - Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi ra trường.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khối lượng thể tích và các nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng thể tích 1. Khái niệm và phương pháp xác định khối lượng thể tích Khái niệm: Khối lượng thể tích của gỗ là tỉ số giữa khối lượng gỗ trên một đơn vị thể tích gỗ (Lê Xuân Tình, 1998). = Trong đó: KLTT: Khối lượng thể tích g/cm3 hoặc kg/m3 m: là khối lượng tính bằng g hoặc kg; V: là thể tích tính bằng cm3 hoặc m3 Một phần các giá trị công nghệ và cường độ gỗ trong chế biến vẫn có thể đánh giá chính xác một cách tương đối trước chỉ nhờ căn cứ vào khối lượng thể tích.
Nhìn chung khối lượng thể tích gỗ càng cao thì tính chất cơ học (khả năng chịu lực) của gỗ càng lớn và ngược lại gỗ có khối lượng thể tích càng nhỏ thì cường độ chịu lực càng thấp. Các phương pháp có thể đo khối lượng thể tích gỗ như: Phương pháp đo, cân; phương pháp nhúng nước; phương pháp dùng thể tích kế thủy ngân; phương pháp thủ công. Tuy nhiên, phương pháp phổ biến đơn giản nhất mà tôi thực hiện trong nghiên cứu này chúng chỉ sử dụng phương pháp đo, cân vì đây là phương pháp thường dùng và chính xác nhất. Phương pháp cân đo: Mẫu thí nghiệm được xẻ với một kích thước nhất định trong nghiên cứu này mẫu đo có kích thước 20 (Xuyên tâm) x 20 (Tiếp tuyến) x 300 (Dọc thớ) mm.
Sau đó dùng thước kẹp hoặc panme đo kích 6 thước ba chiều. Cân khối lượng mẫu gỗ chính xác đến 0,01g (Lê Xuân Tình, 1998). Các nhân tố ảnh hưởng tới khối lượng thể tích a. Loài cây Ứng với mỗi loài cây sẽ có một khối lượng thể tích và thành phần các chất trong gỗ, kết cấu các tế bào mạch gỗ khác nhau.
Nói cách khác: Loài gỗ khác nhau sẽ có cấu tạo khác nhau, mà cấu tạo khác nhau thì khối lượng thể tích sẽ khác nhau. Yếu tố cấu tạo ở đây được biểu thị bằng cấu tạo tế bào trong cây. Đó là tỷ lệ tế bào vách dày và tế bào vách mỏng. Chính nó tạo ra sự chênh lệch về độ rỗng nhiều, ít khác nhau trong cây.
Khối lượng thể tích càng cao tương ứng với độ rỗng càng nhỏ và ngược lại khối lượng thể tích càng thấp độ rỗng càng nhiều (Lê Xuân Tình, 1998). Tỉ lệ gỗ sớm – gỗ muộn Với những loài cây gỗ có gỗ sớm - gỗ muộn phân biệt thì tỉ lệ gỗ muộn nhiều hay ít có ảnh hưởng lớn đến khối lượng thể tích của gỗ. Tỷ lệ gỗ muộn càng nhiều thì khối lượng thể tích càng lớn. Ngược lại tỉ lệ gỗ muộn ít thì khối lượng thể tích gỗ nhỏ.
Thông thường, khối lượng thể tích của gỗ muộn cao gấp 2 - 3 lần khối lượng thể tích của gỗ sớm (Lê Xuân Tình, 1998). Độ ẩm Độ ẩm là tỷ lệ phần trăm lượng nước có trong gỗ so với khối lượng của gỗ. Lượng nước chứa trong gỗ là nhân tố ảnh hưởng lớn đến khối lượng thể tích của gỗ. Tùy theo lượng nước chứa trong gỗ nhiều hay ít, gỗ chứa nhiều nước khối lượng thể tích lớn, chứa ít nước khối lượng thể tích nhỏ (Lê Xuân Tình, 1998).
Vị trí khác nhau trong thân cây Khối lượng thể tích cũng khác nhau ở các vị trí khác nhau trong thân 7 cây.