Chương 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XI MĂNG POÓC-LĂNG 1. Khái niệm về xi măng poóc-lăng Theo định nghĩa của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 2682:2009 Xi măng poóc- lăng - yêu cầu kỹ thuật thì xi măng poóc-lăng là chất kết dính thủy, được chế tạo bằng cách nghiền mịn clinker xi măng poóc-lăng với một lượng thạch cao cần thiết. Trong quá trình nghiền có thể sử dụng phụ gia công nghệ nhưng không quá 1% so với khối lượng clinker.
Phụ gia công nghệ (trợ nghiền, kỵ ẩm,…) gồm các chất cải thiện quá trình nghiền, vận chuyển, đóng bao và/hoặc bảo quản xi măng nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới tính chất của xi măng, vữa và bêtông. Clinker xi măng poóc-lăng là sản phẩm chứa các pha (khoáng) có tính chất kết dính thủy lực, nhận được bằng cách nung đến kết khối hay nóng chảy hỗn hợp các nguyên liệu xác định (phối liệu), chứa các khoáng canxi silicát, canxi aluminat và canxi fero aluminat với tỷ lệ xác định, được định nghĩa bởi Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5438:2004 Xi măng - thuật ngữ và định nghĩa; quy định chất lượng tại Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7024:2013 Clanhke xi măng poóc-lăng. Thạch cao là vật liệu đá thiên nhiên hoặc nhân tạo có chứa khoáng CaSO4.2H2O, được sử dụng làm phụ gia điều chỉnh thời gian đông kết của xi măng. Thạch cao để sản xuất xi măng poóc-lăng có chất lượng theo quy định hiện hành TCVN 9807-2013 Thạch cao dùng để sản xuất xi măng.
Khái niệm về xi măng poóc-lăng hỗn hợp Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6260:2009, xi măng poóc-lăng hỗn hợp là loại chất kết dính thủy lực, được chế tạo bằng cách nghiền mịn hỗn hợp clinker xi măng poóc-lăng với một lượng thạch cao cần thiết và các phụ gia khoáng hoặc bằng cách trộn đều các phụ gia khoáng đã nghiền mịn với xi măng poóc-lăng không chứa phụ gia khoáng. Clinker xi măng poóc-lăng dùng để sản xuất xi măng poóc-lăng hỗn hợp có HVTH: Nguyễn Thanh Tùng 4 Luận văn Thạc sĩ CBHD: Ts. Nguyễn Thành Đông hàm lượng magie ôxit (MgO) không lớn hơn 5%. Phụ gia khoáng để sản xuất xi măng poóc-lăng hỗn hợp phải thỏa mãn các yêu cầu của TCVN 6882:2001 và quy chuẩn sử dụng phụ gia trong sản xuất xi măng.
Phụ gia công nghệ gồm các chất cải thiện quá trình nghiền, vận chuyển, đóng bao và/hoặc bảo quản của xi măng nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới tính chất của xi măng, vữa và bê tông; hàm lượng phụ gia công nghệ trong xi măng không lớn hơn 1%. Tổng lượng các phụ gia khoáng (không kể thạch cao) trong xi măng poóc- lăng hỗn hợp, tính theo khối lượng xi măng, không lớn hơn 40% trong đó phụ gia đầy không lớn hơn 20%. Xi măng poóc-lăng hỗn hợp gồm ba mác PCB30, PCB40 và PCB50, trong đó: PCB là quy ước cho xi măng poóc-lăng hỗn hợp; Các trị số 30, 40 , 50 là cường độ nén tối thiểu mẫu vữa chuẩn ở tuổi 28 ngày đóng rắn, tính bằng MPa, xác định theo TCVN 6016:1995 (ISO 679:1989). Thành phần của clinker xi măng poóc-lăng Clinker xi măng là sản phẩm chứa các pha (khoáng) có tính chất kết dính thủy lực, nhận được bằng cách nung đến kết khối hay nóng chảy hỗn hợp các nguyên liệu xác định (phối liệu).
Clinker xi măng poóc-lăng là clinker xi măng chứa các khoáng canxi silicat, canxi aluminat và canxi fero aluminat với tỷ lệ xác định. Clinker xi măng poóc-lăng là nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất xi măng poóc-lăng. Clinker xi măng poóc-lăng thường ở dạng hạt có đường kính 10 ÷ 40mm, có cấu trúc phức tạp (có nhiều khoáng ở dạng tinh thể và một số khoáng ở dạng vô định hình). Clinker xi măng poóc-lăng được tạo thành do quá trình nung luyện phối HVTH: Nguyễn Thanh Tùng 5 Luận văn Thạc sĩ CBHD: Ts.
Nguyễn Thành Đông o liệu trong lò nung, nhiệt độ nung luyện khoảng 1. Chất lượng của clinker phụ thuộc vào thành phần khoáng vật, hóa học và công nghệ sản xuất. Thành phần hóa học của clinker bao gồm các oxit chính là CaO, Al 2O3, SiO2, Fe2O3 và các oxit tạp chất như MgO, K 2O, Na2O… Giới hạn về tỷ lệ của các oxit này trong clinke được trình bày như trong Bảng 1.1: Thành phần hóa học của clinker Thành phần hóa học CaO Al2O3 SiO2 Fe2O3 MgO K2O+Na2O % khối lượng 63÷67 4÷8 20÷22 2÷4 1÷5 0,5÷3 Thành phần 4 khoáng chính của clinker được trình bày như trong Bảng 1. Ngoài ra là pha thủy tinh.2: Thành phần 4 khoáng chính của clinker Thành phần C3S C2S C3A C4AF khoáng (3CaO.Fe2O3) Tỷ lệ % 45÷65 10÷37 5÷15 10÷18 Đặc tính đặc trưng của từng khoáng: Alit (C S): thành phần chính là 3CaO.SiO , chiếm từ 45÷65% trong 3 2 clinker.
Khoáng này phản ứng nhanh với nước, tỏa nhiều nhiệt khi thủy hóa, cho sản phẩm đông rắn cao nhất sau 28 ngày. Đây là một trong số các pha quan trọng nhất của clinker. Belit (C S): thành phần chính là 2CaO.SiO , chiếm 10÷37% trong 2 2 clinker. Khoáng này phản ứng với nước tỏa ít nhiệt và cho sản phẩm có độ đông rắn chậm nhưng sau 28 ngày cũng đạt được yêu cầu tương đương Alit.
Celit (C4AF): thành phần chính là 4CaO.Fe2O3, chiếm 10÷18% trong clinker, là khoáng cho phản ứng tỏa ít nhiệt và cho sản phẩm phản ứng với độ đông rắn thấp. HVTH: Nguyễn Thanh Tùng 6 Luận văn Thạc sĩ CBHD: Ts. Nguyễn Thành Đông Canxi aluminat (C A): thành phần chính là 3CaO. Khoáng này phản ứng nhanh với nước, tỏa nhiều nhiệt, cho sản phẩm phản ứng ban đầu đông rắn nhanh nhưng sau đó lại chậm và kém hơn Alit.
Phản ứng thủy hóa của xi măng Khi trộn xi măng với nước, các khoáng C 3S, C2S, C3A, C4AF thực hiện phản ứng thủy hóa. Tùy thuộc vào loại khoáng, hàm lượng khoáng, hàm lượng pha thủy tinh mà khả năng tương hỗ của xi măng với nước là khác nhau, tạo nên các pha kết dính CxSyHz, CxAyHz, Ca(OH)2 và Al(OH)3. Quá trình hidrat hoá tạo pha poóc-lăngit Ca(OH)2 và Al(OH)3 là những hiđrôxit dễ tan trong nước và chúng để lại những lỗ trống mao quản, đồng thời quá trình bay hơi của nước dư trong thời kỳ hidrat hoá tạo nên độ xốp, rỗng trong vữa xi măng và bê tông. Quá trình hidrat hóa của C3S (Alit) Thời kì ban đầu, ngay khi đổ nước vào để trộn vữa, bề mặt của hạt C 3S tan 2+ - 2- dần ra để cung cấp các ion Ca , OH , H2SiO4 vào dung dịch.
Dần dần dung dịch trở nên quá bão hòa Ca(OH)2 và pha rắn này bắt đầu kết tủa gọi là pha poóc-lăngit. Lúc này có sự cạnh tranh nảy sinh các tinh thể Ca(OH) 2 và CSH. Ở điều kiện thường, phản ứng thủy hóa chỉ hoàn toàn kết thúc sau thời gian từ 1 đến 1,5 năm và có thể viết như sau: 2(3CaO. Hàm lượng C3S trong xi măng chiếm tỷ lệ lớn nên lượng Ca(OH)2 tách ra khá lớn.
Quá trình hidrat hóa của C2S (Belit) Phản ứng hidrat hóa của C2S tạo thành hidrosilicat và một số lượng Ca(OH)2, nhưng lượng Ca(OH)2 tách ra ở phản ứng này ít hơn ở phản ứng thủy hóa của C3S.3H2O + Ca(OH)2 HVTH: Nguyễn Thanh Tùng 7 Luận văn Thạc sĩ CBHD: Ts. Nguyễn Thành Đông 1. Quá trình hidrat hóa của C3A (Canxi Aluminat) Sự tác dụng tương hỗ giữa C 3A và H2O sẽ sinh ra phản ứng và phát ra một lượng nhiệt khá lớn theo phương trình sau: 3CaO.6H2O Phản ứng phụ: khi trong xi măng poóc-lăng có mặt của thạch cao sống thì sẽ tác dụng với thành phần C 3A và hình thành một khoáng vật mới gây trương nở thể tích theo phản ứng sau: 3CaO. Quá trình hidrat hóa của C4AF Khi cho C4AF tác dụng với H2O trong điều kiện xi măng thủy hóa hoàn toàn và hình thành một lượng vôi bão hòa thì phản ứng sẽ xảy ra trong điều kiện nhiệt độ của môi trường theo phương trình phản ứng sau: 4CaO.1: Vi cấu trúc hạt xi măng trong quá trình hidrat hóa HVTH: Nguyễn Thanh Tùng 8 Luận văn Thạc sĩ CBHD: Ts.
Nguyễn Thành Đông 1. Quá trình hình thành và tính chất cơ lý của đá xi măng Đá xi măng là sản phẩm của quá trình thủy hóa xi măng sau một thời gian đã đạt tới một cường độ nhất định. Quá trình hình thành đá xi măng (cơ chế đông rắn của vữa) diễn ra như sau: Bắt đầu từ khi trộn nước và hỗn hợp cấp phối (thường là xi măng và cát, theo tỷ lệ 1:3) độ dẻo của vữa tăng dần. Phản ứng thủy hóa của C 3A diễn ra, những 2− tinh thể ettringit đầu tiên bắt đầu xuất hiện.
Ở giữa các hạt xi măng là dung dịch bão hòa 4 và Ca. Gần như ngay lập tức, monosunfat (3CaO.12H2O) 2+ được tạo thành, sản phẩm này ngăn chặn sự tấn công ồ ạt của nước, quá trình hidrat hóa chậm lại. Sau đó là phản ứng kết tinh của silicat, aluminat phía trong màng, màng bị phá vỡ và sự hidrat hóa xảy ra tiếp tục. 2− Quá trình trên lặp lại nhiều lần, hidrosilicatcanxi, hidroaluminatcanxi dạng sợi, dạng hình kim … được tạo thành.
Khi nồng độ cao 4 và Ca không còn đủ lớn tạo thành ettringit, sự tạo 2+ thành gel C-S-H xảy ra liên tục. Chính nhờ cơ chế này mà tạo nên cường độ của xi măng. Quá trình đóng rắn của đá xi măng có thể chia thành các giai đoạn: Giai đoạn 1: Xảy ra sự khuếch tán các hạt xi măng vào trong nước, các phân tử nước tấn công ồ ạt lên bề mặt các hạt xi măng. Bắt đầu hình thành Ca(OH) 2, monosufat và C3A.32H2O (ettringit) trên bề mặt các hạt khoáng.
Giai đoạn kéo dài khoảng 10 phút và không tạo thành cấu trúc. Giai đoạn 2: Tốc độ phản ứng hidrat hóa chậm lại do keo monosunfat hình thành bao bọc lấy các hạt xi măng, độ dẻo của vữa trong giai đoạn này là ổn định, sau đó xuất hiện sự kết tinh của các tinh thể 2− silicat, aluminat phía trong phá hủy màng. Quá trình thủy hóa trên được lặp đi lặp lại đến khi nồng độ 4 không còn đủ để tạo thành ettringit, giai đoạn này kéo dài khoảng 2 giờ và các gel C-S-H bắt đầu xuất HVTH: Nguyễn Thanh Tùng 9 Luận văn Thạc sĩ CBHD: Ts. Nguyễn Thành Đông hiện.
Giai đoạn 3: 2− Do nồng độ 4 quá nhỏ, khả năng tạo lớp keo giả bền và ettringit không còn nữa, tốc độ phản ứng tăng vọt, sự hình thành gel C-S-H lấp đầy vào khoảng trống giữa các hạt xi măng rất nhanh chóng. Cứ thế đá xi măng được tạo thành và cường độ của đá (tính theo cường độ kháng nén) bắt đầu phát triển mạnh. Giai đoạn này kéo dài 24 giờ và phần nhiều khoáng xi măng đã tham gia quá trình hidrat hóa.