Chương 1. Giới thiệu chung về xi măng poóc lăng 1. Khái niệm về xi măng poóc lăng Xi măng poóc lăng là chất kết dính thủy, được chế tạo bằng cách nghiền mịn clinker xi măng poóc lăng với một lượng thạch cao cần thiết. Trong quá trình nghiền có thể sử dụng phụ gia công nghệ nhưng không quá 1% so với khối lượng clinker.
Clinker xi măng poóc lăng được định nghĩa theo TCVN 5438 : 2004. Thạch cao để sản xuất xi măng poóc lăng có chất lượng theo quy định hiện hành (TCXD 168: 89). Phụ gia công nghệ gồm các chất cải thiện quá trình nghiền, vận chuyển, đóng bao và/hoặc bảo quản xi măng nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới tính chất của xi măng, vữa và bêtông. Khái niệm về xi măng poóc lăng hỗn hợp Xi măng poóc lăng hỗn hợp là loại chất kết dính thuỷ, được chế tạo bằng cách nghiền mịn hỗn hợp clinker xi măng poóc lăng với các phụ gia khoáng và một lượng thạch cao cần thiết hoặc bằng cách trộn đều các phụ gia khoáng đã nghiền mịn với xi măng poóc lăng không chứa phụ gia khoáng.
Clinker xi măng poóc lăng dùng để sản xuất xi măng poóc lăng hỗn hợp có hàm lượng magie ôxit (MgO) không lớn hơn 5%. Phụ gia khoáng để sản xuất xi măng poóc lăng hỗn hợp phải thỏa mãn các yêu cầu của TCVN 6882: 2001 và quy chuẩn sử dụng phụ gia trong sản xuất xi măng. Phụ gia công nghệ gồm các chất cải thiện quá trình nghiền, vận chuyển, đóng bao và/hoặc bảo quản của xi măng nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới tính chất của xi măng, vữa và bê tông; hàm lượng phụ gia công nghệ trong xi măng Nguyễn Hùng Trang 3 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI không lớn hơn 1%. Tổng lượng các phụ gia khoáng (không kể thạch cao) trong xi măng poóc lăng hỗn hợp, tính theo khối lượng xi măng, không lớn hơn 40% trong đó phụ gia đầy không lớn hơn 20%.
Thạch cao để sản xuất xi măng poóc lăng hỗn hợp có chất lượng theo TCXD 168: 89. Xi măng poóc lăng hỗn hợp gồm ba mác PCB30, PCB40 và PCB50, trong đó: - PCB là quy ước cho xi măng poóc lăng hỗn hợp; - Các trị số 30, 40 , 50 là cường độ nén tối thiểu mẫu vữa chuẩn ở tuổi 28 ngày đóng rắn, tính bằng MPa, xác định theo TCVN 6016 : 1995 (ISO 679 : 1989). Thành phần của clinker xi măng poóc lăng 1. Khái niệm về clinker xi măng poóc lăng Clinker xi mănglà sản phẩm chứa các pha (khoáng) có tính chất kết dính thủy lực, nhận được bằng cách nung đến kết khối hay nóng chảy hỗn hợp các nguyên liệu xác định (phối liệu).
Clinker xi măng poóc lăng là clinker xi măng chứa các khoáng canxi silicat, canxi aluminat và canxi fero aluminat với tỷ lệ xác định. Clinker xi măng poóc lăng là nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất xi măngpoóc lăng. Clinker xi măng poóc lăng thường ở dạng hạt có đường kính 10 ÷ 40mm, có cấu trúcphức tạp (có nhiều khoáng ở dạng tinh thể và một số khoáng ở dạng vô địnhhình). Clinker xi măng poóc lăng được tạo thành do quá trình nung luyện phối liệu trong lò nung, nhiệt độ nung luyện vào khoảng 1450oC.
Chất lượng của clinker phụ thuộc vào thành phần khoáng vật, hóa học vàcông nghệ sản xuất. Tính chất của xi măng do chất lượng của clinker quyết định. Nguyễn Hùng Trang 4 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 1. Thành phần hóa học của clinker poóc lăng[1] Thành phần hóa học của clinker được trình bày ở bảng dưới đây: Bảng 1.
1Thành phần hóa học của clinker. Thành phần hóa học CaO Al2O3 SiO2 Fe2O3 Tỷ lệ % khối lượng 63 ÷ 67 4÷8 20 ÷ 22 2÷4 Ngoài ra còn có những tạp chất không mong muốn như MgO khoảng 1 ÷ 5%, ôxit kiềm 0. Bản chất hóa học của từng thành phần: * Oxit canxi (CaO): CaO là cấu tử chính kết hợp với các oxit Al2O3, SiO2, Fe2O3 trong quá trình nung luyện để tạo thành các khoáng chính của clinker xi măng Portland [4] Hàm lượng CaO nhiều sẽ tạo nhiều khoáng silicat canxi (C3S) trong clinker xi măng Portland làm cho xi măng có chất lượng tốt, phát triển cường độ nhanh, mác cao nhưng xi măng rất kém bền trong môi trường xâm thực. Ngoài ra, oxit CaO có thể nằm ở dạng CaOtự do, nếu hàm lượng CaO tự do quá nhiều thì sau khi vữa xi măng đã đóng rắn lúc đó CaOtự do mới bắt đầu tác dụng với nước tạo thành Ca(OH)2, gây hiện tượng trương nở thể tích, gây nứt cấu kiện * Oxit Silic (SiO2): SiO2 trong quá trình nung luyện sẽ phản ứng với CaO để tạo thành khoáng silicat canxi (C3S và C2 S) [4].
Nếu hàm lượng SiO 2 lớn (oxit CaO sẽ giảm tương đối) thì khoáng C2S sẽ tăng lên, xi măng đóng rắn chậm nhưng thời gian lâu dài sẽ phát triển cường độ và bảo đảm mác xi măng. Đặc biệt nếu hàm lượng SiO2 tăng, sẽ tạo xi măng có độ bền cao trong môi trường xâm thực [4]. Hàm lượng Al2O3 tăng sẽ tăng khả năng xuất hiện pha lỏng sớm trong clinker xi măng Portland, tạo ra xi măng có độ ninh kết và đóng rắn nhanh, tỏa nhiều nhiệt, rất kém bền trong môi trường sunphat và nước biển [4]. * Oxit sắt (Fe2O3 ) Fe2O3 có tác dụng hạ thấp nhiệt độ hình thành pha lỏng, trong quá trình nung luyện nó sẽ phản ứng để hình thành nên khoáng alumopherit canxi (C4AF) làm cho xi măng tỏa nhiệt ít, bền trong môi trường xâm thực của nước biển và sunphat [4] Khi Fe2O3 tăng thì C4AF tăng, độ nhớt pha lỏng giảm, CaOtự do giảm C3S tạo ra nhiều, nhưng Fe 2O3 tăng thì độ nhớt pha lỏng giảm nên trong lò quay dễ tạo vành “ ano” hoặc bết tắc * Oxit manhe (MgO) [4]: MgO hầu hết nằm ở dạng tự do (periclaz) trong clinker, phản ứng rất chậm với nước.
Hàm lượng MgO tăng sẽ làm xi măng giãn nở thể tích lớn, dễ gây nứt vỡ cấu kiện bê tông. * Oxit kiềm ( R2O ) [4] : Ở nhiệt độ cao, một phần R2O thăng hoa bay theo bụi, một phần tan trong pha lỏng tạo thủy tinh hay tham gia phản ứng tạo khoáng chứa kiềm của C 3A và C2S. Nếu clinker nhiều R 2O sẽ làm xi măng giảm cường độ, không ổn định thể tích. Nguyễn Hùng Trang 6 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 1.
Thành phần khoáng Thành phầnvà tỷ lệ % khoáng của clinker được trình bày ở bảng 1. 2:Thành phầnvà tỷ lệ % khoáng của clinker Thành C 3S C2S C3A C4AF phần pha (3CaO.Fe2O 3) Tỷ lệ % 45 ÷ 65 10 ÷ 37 5 ÷ 15 10 ÷ 18 Đặc tính của từng khoáng: * Alite [4]: Alite là hỗn hợp nhiều khoáng, mà khoáng chủ yếu là 3CaO.SiO2 (C3S), ngoài ra trong Alite còn chứa khoảng 4% 3CaO. Al2O3 (C3A) và một lượng nhỏ MgO; chúng tạo thành dung dịch rắn. Cấu trúc mạng lưới tinh thể của Alite có thể thay đổi khi Al 2O3 được thay thế bằng Fe2O3 và MgO bằng FeO.
Alite là khoáng quan trọng nhất trong clinker xi măng Portland, thường chiếm từ 45 ÷ 60%. Xi măng Portland chứa hàm lượng Alite cao, nên rắn nhanh và cho cường độ cao, đồng thời khi đóng rắn tỏa nhiệt lớn và ít co thể tích. Dưới kính hiển vi C3 S tinh khiết có dạng tinh thể hình lục giác đều (hình 1.1 A) và cấu trúc dung dịch rắn của Alite được thể hiện ở hình 1A và 1B. 1: Khoáng Alite[6]* Belite [4]: Nguyễn Hùng Trang 7 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Thành phần khoáng chủ yếu là silicat dicanxit: 2CaO.
Hàm lượng belit trong clinker xi măng Portland chiềm từ 20÷30%. Belit tồn tại dưới 5 dạng thù hình: α – C2S, α’L – C2S, α ‘H – C2S, β – C2 S, γ – C2S. Các dạng thù hình khác nhau ở cấu trúc mạng tinh thể do đó khác nhau về tính chất. Trong đó β – C2S là dạng giả ổn định trong clinker xi măng Portland.
Belit chủ yếu là β – C2 S là khoáng quan trọng thứ hai trong clinker xi măng Portland. Belit đóng rắn tương đối chậm, cho cường độ ban đầu không cao nhưng về sau phát triển cường độ tốt. Sản phẩm đóng rắn của β – C 2S bền vững trong môi trường nước và nước khoáng. Khoáng Belite có hình dạng tròn và cấu trúc dung dịch rắn của belite được thể hiện ở hình 1.
2Khoáng Belite [6] * Celite: 2CaO.(1-p)Fe2O3 (alumoferitcalci) [4]: Theo nghiên cứu của Browmillerit, celit có thành phần gần giống C4AF (4CaO. Thực tế nó là dung dịch rắn của hỗn hơp tinh thể của các khoáng alumoferitcalci C 6A2F–C 4AF–C6AF2 và có dạng công thực chung C2AxF 1-x (trong đó x < 0,7). Ngoài ra trong dung dịch rắn của nó còn chứa một phần C 3A và những thành phần khoáng khác như C 2F, MgO. Nguyễn Hùng Trang 8 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Trong clinker xi măng Portland xem celite tồn tại dưới dạng C4AF và chiếm từ 10 ÷ 18%.
Celite là khoáng đóng rắn cho cường độ tương đối thấp, nhưng sản phẩm đóng rắn trong môi trường nước và môi trường ăn mòn sulfat. Celite là khoáng nặng nhất γ = 3,77 g/cm 3. * Khoáng aluminattricalci 3CaO.Al2O3 (C3A) [4]: Trong clinker xi măng Portland aluminattricalci tồn tại chủ yếu dưới dạng C3A (3CaO. Al 2O3), ngoài ra dưới những điều kiện nhất định (nghèo CaO) nó cũng có thể dưới dạng C 12A7 (12CaO.
Trong dung dịch rắn của C 3A cũng có thể chứa 2,5%MgO. Aluminattricalci chiếm 7 – 15% trong clinker xi măng Portland, là khoáng có tính chất kết dính, dạng tinh thể lập phương, đóng rắn nhanh, tỏa nhiều nhiệt và là khoáng không bền trong môi trường nước khoáng (biển). 3: Khoáng C3A và C4 AF [7] Hình 1.3 mô tả mẫu clinker được mài nhẵn và chụp bằng kính hiển vi quan sát thấy được các pha xen kẽ, tỷ lệ cao nhôm sẽ sản xuất ra khoáng C 3A (được đánh bóng sang màu xám) nhiều hơn C 4AF, khoáng C4AF phản quang tốt hơn nên nhìn thấy màu trắng. Nguyễn Hùng Trang 9 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI * Chất trung gian (chất đệm) [4]: Chất trung gian nằm xen kẽ giữa các tinh thể Alite và Belite, thành phần chủ yếu là các khoáng aluminatcalci, alumoferitcalci và pha thủy tinh.
Các khoáng này khi nung ở nhiệt độ cao tạo thành pha lỏng của clinker. Pha lỏng chiếm 15 ÷ 25%, thành phần pha lỏng phụ thuộc tốc độ làm lạnh, độ nhớt pha lỏng và tỷ lệ các cấu tử. Trong pha lỏng có sự hòa tan kiềm, Al2O3, Fe2O3 và MgO. * Các khoáng chứa kiềm [4]: Trong clinker xi măng Portland các khoáng chứa kiềm tồn tại dưới dạng KC23 S12 (K 2O.12SiO2 ) và NaC8A3 (Na 2O.