Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Hồng sở hữu 857.600 ha đất sản xuất nông nghiệp, chiếm khoảng 9,2% tổng diện tích đất nông nghiệp cả nước và đóng góp từ 5,10 đến 6,80 triệu tấn thóc mỗi năm, tương đương 20% tổng sản lượng lương thực toàn quốc. Trong cơ cấu sản xuất lúa hiện đại, việc đưa các giống lúa lai vào cơ cấu mùa vụ đã tạo bước đột phá về năng suất, thường vượt trội từ 15% đến 30% so với các giống lúa thuần truyền thống. Tuy nhiên, tập quán canh tác thâm canh hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là việc lạm dụng phân bón vô cơ hoặc áp dụng quy trình bón đạm của lúa thuần cho lúa lai. Thực tế chỉ ra rằng phân bón đóng góp từ 30% đến 40% tổng sản lượng cây trồng, nhưng hiệu suất sử dụng phân đạm trong canh tác lúa nước tại Việt Nam hiện chỉ dao động ở mức 20% đến 40%. Việc bón đạm thừa, không cân đối không những làm tăng chi phí sản xuất mà còn khiến quần thể ruộng lúa dễ bị lốp đổ, nhiễm sâu bệnh hại nặng nề và làm suy thoái môi trường đất, nước.

Nhằm giải quyết triệt để vấn đề trên, luận văn thạc sĩ nông nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mơ, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Tăng Thị Hạnh tại Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã thực hiện đề tài nghiên cứu về ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa lai tại Gia Lâm (Hà Nội) và Nghĩa Hưng (Nam Định). Nghiên cứu được triển khai trong vụ Xuân năm 2011 với mục tiêu xác định chính xác các chỉ tiêu sinh lý, động thái tăng trưởng thân lá, khả năng tích lũy chất khô và các yếu tố cấu thành năng suất của 3 giống lúa lai triển vọng gồm Việt lai 24, TH3-4 và HYT103 dưới các mức bón đạm khác nhau. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc xây dựng định mức bón phân đạm tiết kiệm, giúp nông dân tăng năng suất hạt thực thu đạt từ 6,85 đến 7,65 tấn/ha, đồng thời cắt giảm từ 10% đến 15% chi phí phân bón hóa học đầu vào.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết dinh dưỡng khoáng thực vật và cơ chế đồng hóa nitơ của cây trồng một lá mầm. Nitơ (đạm) là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng giữ vai trò quyết định hàng đầu đối với sự sống của cây lúa, cấu thành nên protein, axit nucleic (ADN, ARN), màng sinh học và diệp lục tố. Trong mô sinh dưỡng non của cây lúa, hàm lượng đạm chiếm từ 5,5% đến 6,5% và chiếm từ 1% đến 5% tổng khối lượng chất khô toàn cây. Nhu cầu hấp thụ đạm diễn ra liên tục nhưng tập trung cao độ nhất vào 2 giai đoạn xung yếu: thời kỳ đẻ nhánh rộ (hút tới 3,52 kg N/ha/ngày, chiếm 34,69% tổng lượng đạm cả chu kỳ) và thời kỳ làm đòng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng thuyết ưu thế lai (Heterosis) ở lúa lai F1 hệ 2 dòng và 3 dòng. Do sở hữu bộ máy di truyền vượt trội, lúa lai có khả năng phát triển bộ rễ mạnh, đẻ nhánh khỏe, quang hợp hiệu quả và đạt tốc độ tích lũy chất khô trên 90 g/m²/ngày ở giai đoạn cao điểm. Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 5 khái niệm cốt lõi: Chỉ số diện tích lá (CSDTL - m² lá/m² đất), Hiệu suất quang hợp thuần (HSQHT - g/m² lá/ngày), Tốc độ tích lũy chất khô (TđTLCK), Hiệu suất sử dụng đạm (HSSDD - kg thóc/kg N nguyên chất) và Năng suất kinh tế thực thu (NSTT). Đất phù sa Đồng bằng sông Hồng có hàm lượng đạm tổng số dao động từ 0,3 đến 2,05 g N/kg đất và tỷ lệ C/N biến động từ 7,0 đến 11,9, tạo nên môi trường chuyển hóa dinh dưỡng đa dạng cần được cân đối chính xác qua liều lượng bón.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ 2 thí nghiệm đồng ruộng độc lập trong vụ Xuân năm 2011 tại 2 địa bàn đại diện cho 2 tiểu vùng sinh thái: Viện Nghiên cứu Phát triển Cây trồng - Gia Lâm, Hà Nội (chân đất phù sa cổ sông Hồng không được bồi hàng năm, hàm lượng đạm tổng số đạt 1,25 - 2,05 g/kg) và xã Nghĩa Phong, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định (chân đất phù sa ven biển chịu ảnh hưởng nhiễm mặn nhẹ, hàm lượng đạm tổng số đạt 0,135 - 0,630 g/kg). Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 3 giống lúa lai (Việt lai 24, TH3-4, HYT103) khảo nghiệm qua 5 mức liều lượng phân đạm khác nhau (từ 0 kg N/ha, 90 kg N/ha, 120 kg N/ha, 150 kg N/ha đến 180 kg N/ha) trên nền phân bón lót cố định gồm 8 - 10 tấn phân chuồng + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O cho mỗi hecta. Diện tích mỗi ô thí nghiệm đạt từ 10 m² đến 15 m².

Phương pháp chọn mẫu sinh học tuân thủ nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn khảo nghiệm giống quốc gia và quy chuẩn của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI). Việc lấy mẫu ngẫu nhiên từ 10 đến 20 khóm lúa/ô được thực hiện định kỳ qua các giai đoạn: đẻ nhánh, kết thúc đẻ nhánh, làm đòng, trổ bông và chín thu hoạch. Hàm lượng diệp lục được xác định trực tiếp ngoài đồng bằng máy đo SPAD-502, diện tích lá đo bằng phương pháp cân khối lượng quy đổi. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm đảm bảo tính chuẩn hóa quốc tế và loại bỏ sai số ngoại cảnh. Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm chuyên dụng IRRISTAT 5.0 và Microsoft Excel, thực hiện phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh sai khác trung bình nghiệm thức theo chuẩn LSD ở mức xác suất tin cậy P < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, liều lượng đạm ảnh hưởng trực tiếp đến động thái đẻ nhánh và cấu trúc tán lá của các giống lúa lai. Khi tăng liều lượng đạm từ mức đối chứng 0 kg N/ha lên 150 kg N/ha, chiều cao cây tăng từ 15,2% đến 22,4%, số nhánh đẻ hữu hiệu tăng từ 3,8 - 4,2 nhánh/khóm lên 5,8 - 6,9 nhánh/khóm. Chỉ số diện tích lá (CSDTL) đạt giá trị cực đại ở giai đoạn trổ bông tại mức bón 150 kg N/ha, đạt từ 5,8 đến 6,5 m² lá/m² đất, cao hơn nghiệm thức không bón đạm từ 54,3% đến 68,7%.

Thứ hai, tốc độ tích lũy chất khô và chỉ số SPAD tăng mạnh theo mức đạm đầu vào. Ở mức bón 150 kg N/ha, chỉ số SPAD duy trì ở mức tối ưu từ 42,5 đến 46,2 đơn vị trong giai đoạn nuôi đòng và nuôi hạt. Tốc độ tích lũy chất khô của giống TH3-4 và Việt lai 24 đạt từ 18,5 đến 22,3 g/m² đất/ngày trong giai đoạn làm đòng đến trổ, cao hơn mức bón 90 kg N/ha khoảng 18,6%.

Thứ ba, việc bón thừa đạm ở mức 180 kg N/ha làm gia tăng rõ rệt mức độ nhiễm dịch hại và nguy cơ lốp đổ. Tỷ lệ nhiễm bệnh đạo ôn lá, bạc lá vi khuẩn và sâu cuốn lá nhỏ ở mức 180 kg N/ha tăng từ 25% đến 40% so với mức bón 150 kg N/ha, đồng thời làm tăng chỉ số đổ ngã lên mức 2 - 3 do thân cây vống cao, vách tế bào mềm yếu.

Thứ tư, năng suất hạt thực thu đạt đỉnh tại mức bón 150 kg N/ha trên cả 2 vùng sinh thái. Cụ thể, tại Gia Lâm (Hà Nội), năng suất thực thu của các giống đạt từ 7,12 đến 7,65 tấn/ha, tăng từ 38,5% đến 45,2% so với công thức đối chứng không bón đạm. Tại Nghĩa Hưng (Nam Định), năng suất dao động từ 6,85 đến 7,38 tấn/ha. Trong đó, giống TH3-4 và Việt lai 24 thể hiện năng suất vượt trội hơn giống HYT103 từ 6,2% đến 9,8%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của sự gia tăng năng suất là do phân đạm đã cung cấp đầy đủ dưỡng chất để thúc đẩy quá trình phân bào, mở rộng diện tích quang hợp và tối ưu hóa số hạt chắc trên bông (đạt từ 145 đến 182 hạt chắc/bông ở mức 150 kg N/ha). Tuy nhiên, khi tiếp tục tăng đạm lên 180 kg N/ha, năng suất thực thu không những không tăng mà còn giảm nhẹ từ 3,2% đến 5,8%, đồng thời hiệu suất sử dụng đạm sụt giảm nghiêm trọng từ 14,2 kg thóc/kg N xuống còn dưới 9,5 kg thóc/kg N. Điều này được giải thích bởi hiện tượng tiêu hao gluxit do hô hấp tăng cao khi cây dư thừa nitơ, kết hợp với mật độ tán lá quá dày làm giảm hiệu suất quang hợp thuần của các tầng lá phía dưới.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công bố khoa học của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và các nghiên cứu thâm canh lúa lai tại Việt Nam của Phạm Văn Cường (2003, 2005), khẳng định bón đạm cho lúa lai cần tập trung vào giai đoạn đầu vụ (đẻ nhánh chiếm 50% - 60% tổng lượng) để định hình số bông hữu hiệu mà không làm kéo dài thời gian sinh trưởng. Toàn bộ các biến thiên dữ liệu này được mô hình hóa trực quan thông qua đồ thị hồi quy tương quan bậc hai giữa liều lượng phân đạm bón và năng suất thực thu, cùng các bảng tổng hợp ma trận kinh tế thể hiện rõ doanh thu, chi phí phân bón và lợi nhuận thuần túy trên từng hecta canh tác tại hai vùng đất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành quy trình kỹ thuật bón đạm chuẩn hóa cho các giống lúa lai 2 dòng và 3 dòng trong vụ Xuân. Sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh Hà Nội, Nam Định và các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng cần phối hợp cùng Trung tâm Khuyến nông Quốc gia hoàn thiện tài liệu hướng dẫn thâm canh, khuyến cáo mức bón tối ưu là 140 - 150 kg N/ha kết hợp 90 kg P2O5 và 90 kg K2O/ha cho các giống lúa TH3-4 và Việt lai 24, nhằm hướng tới mục tiêu ổn định năng suất từ 7,0 đến 7,5 tấn/ha, hoàn thành việc phổ biến trước quý I hàng năm.

Thứ hai, triển khai phương thức bón phân phân kỳ khoa học theo nhu cầu sinh lý của cây lúa. Các Hợp tác xã nông nghiệp và hộ nông dân cần áp dụng nghiêm ngặt tỷ lệ bón: 40% bón lót sâu trước khi bừa cấy + 40% bón thúc đẻ nhánh sớm (sau cấy 7 - 10 ngày khi lúa hồi xanh) + 20% bón đón đòng (khi lúa phân hóa đòng bước 3). Kỹ thuật này giúp tăng hiệu suất hấp thụ đạm của bộ rễ lên trên 45%, giảm thiểu lượng đạm thất thoát qua bay hơi khí amoniac (NH3) và rửa trôi khoảng 15% đến 20% trong suốt chu kỳ sinh trưởng 125 - 135 ngày của vụ Xuân.

Thứ ba, mở rộng diện tích gieo cấy các giống lúa lai có tiềm năng năng suất cao và chống chịu tốt. Các doanh nghiệp giống cây trồng và viện nghiên cứu chuyên ngành cần đẩy mạnh cung ứng và chuyển giao giống TH3-4 và Việt lai 24 tại các vùng sinh thái đất phù sa và đất nhiễm mặn nhẹ ven biển, đặt mục tiêu mở rộng quy mô gieo cấy đạt trên 50.000 ha trong giai đoạn 2 đến 3 năm tới.

Thứ tư, tăng cường quản lý dinh dưỡng cây trồng theo hướng sinh thái và ứng dụng công cụ chẩn đoán nhanh. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cấp tỉnh cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật sử dụng bảng so màu lá lúa (LCC) hoặc máy đo chỉ số SPAD cho cán bộ cơ sở, kiểm soát chặt chẽ liều lượng phân đạm để giảm tối thiểu 25% lượng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, tiết kiệm chi phí sản xuất từ 1,5 đến 2,0 triệu đồng/ha/vụ và bảo vệ hệ sinh thái đồng ruộng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Trồng trọt, Nông học, Khoa học Đất và Bảo vệ thực vật. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu đồng ruộng chuẩn mực, hệ thống số liệu sinh lý - sinh hóa chi tiết về mối quan hệ giữa dinh dưỡng đạm và quá trình tích lũy chất khô, đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu và khóa luận học thuật chuyên sâu.

Thứ hai, cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, chuyên viên khuyến nông và các nhà quản lý nông nghiệp cấp tỉnh, huyện. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về định mức bón đạm tối ưu (140 - 150 kg N/ha) và đặc tính nông học của các giống lúa lai mới, hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng cơ cấu giống, lịch thời vụ và quy trình kỹ thuật khuyến nông tại địa phương.

Thứ ba, các doanh nghiệp sản xuất phân bón và đơn vị kinh doanh giống cây trồng. Dữ liệu thực nghiệm về nhu cầu hấp thụ dinh dưỡng đạt đỉnh 3,52 kg N/ha/ngày ở giai đoạn đẻ nhánh rộ là căn cứ khoa học quan trọng để các nhà máy phối trộn, sản xuất các dòng phân bón NPK chuyên dùng cho lúa lai có tỷ lệ dinh dưỡng và tốc độ tan giải phóng phù hợp.

Thứ tư, chủ trang trại nông nghiệp, giám đốc hợp tác xã và hộ nông dân thâm canh lúa quy mô lớn. Người sản xuất có thể trực tiếp ứng dụng quy tắc bón phân cân đối để tăng năng suất lúa thực thu thêm từ 0,5 đến 1,0 tấn/ha, hạn chế tình trạng lãng phí phân bón và giảm thiểu rủi ro thiệt hại do lốp đổ, sâu bệnh trong mùa vụ.

Câu hỏi thường gặp

Liều lượng phân đạm bón tối ưu nhất cho các giống lúa lai trong nghiên cứu là bao nhiêu? Mức bón đạm tối ưu nhất được xác định là 150 kg N/ha trên nền bón lót 8 - 10 tấn phân chuồng, 90 kg P2O5 và 90 kg K2O/ha. Tại mức dinh dưỡng này, các giống lúa TH3-4 và Việt lai 24 đạt năng suất thực thu cao nhất từ 7,12 đến 7,65 tấn/ha, đồng thời mang lại tỷ suất lợi nhuận kinh tế cao nhất trên cả đất Gia Lâm và Nghĩa Hưng.

Bón thừa đạm vượt quá 180 kg N/ha gây ra những tác hại cụ thể nào cho ruộng lúa lai? Bón vượt mức 180 kg N/ha khiến cây lúa vống cao, bản lá to mỏng và rũ xuống làm giảm hiệu suất quang hợp. Đồng thời, thân cây mềm yếu làm tăng chỉ số đổ ngã lên cấp 2 - 3, tỷ lệ nhiễm bệnh đạo ôn và bạc lá tăng từ 25% đến 40%, khiến hiệu suất sử dụng đạm giảm mạnh xuống dưới 9,5 kg thóc/kg N.

Thời điểm nào trong chu kỳ sinh trưởng cây lúa lai hấp thụ phân đạm mạnh nhất? Cây lúa lai hút đạm mạnh nhất từ giai đoạn đẻ nhánh rộ đến làm đòng với cường độ đạt khoảng 3,52 kg N/ha/ngày, chiếm 34,69% tổng lượng đạm hấp thụ toàn vụ. Do đó, cần tập trung bón lót và bón thúc đẻ nhánh sớm khoảng 80% tổng lượng phân đạm để kích thích tạo nhánh hữu hiệu và phát triển bông lớn.

Giống lúa lai nào thể hiện khả năng sinh trưởng và cho năng suất vượt trội nhất trong nghiên cứu? Hai giống lúa lai TH3-4 và Việt lai 24 thể hiện khả năng thích ứng tuyệt vời và ưu thế lai vượt trội với năng suất đạt từ 7,3 đến 7,6 tấn/ha, chỉ số diện tích lá đạt 6,2 - 6,5 m² lá/m² đất. Cả hai giống đều có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn và cho năng suất cao hơn giống HYT103 từ 6,2% đến 9,8%.

Có sự khác biệt nào về hiệu quả bón đạm giữa chân đất Gia Lâm (Hà Nội) và Nghĩa Hưng (Nam Định)? Đất phù sa Gia Lâm có độ phì và hàm lượng đạm tổng số cao hơn (1,25 - 2,05 g/kg) giúp lúa sinh trưởng thuận lợi và đạt năng suất cao hơn Nghĩa Hưng từ 0,3 đến 0,5 tấn/ha. Tại Nghĩa Hưng, đất có hàm lượng đạm thấp hơn (0,135 - 0,630 g/kg) nên phản ứng của cây lúa với việc bón bổ sung phân đạm thể hiện rõ nét hơn trong việc tăng tỷ lệ hạt chắc.

Kết luận

  • Xác định mức bón 150 kg N/ha kết hợp 90 kg P2O5 và 90 kg K2O/ha là ngưỡng kỹ thuật tối ưu giúp lúa lai đạt năng suất thực thu cao nhất từ 6,85 đến 7,65 tấn/ha trong vụ Xuân.
  • Khẳng định TH3-4 và Việt lai 24 là hai giống lúa lai 2 dòng có tiềm năng năng suất vượt trội, chỉ số diện tích lá tối ưu và hiệu quả sử dụng phân đạm hàng đầu tại vùng Đồng bằng sông Hồng.
  • Làm sáng tỏ quy luật sinh lý hấp thụ nitơ của lúa lai F1, chứng minh thời kỳ đẻ nhánh rộ chiếm tới 34,69% tổng nhu cầu đạm, tạo cơ sở để điều chỉnh tỷ lệ bón phân kỳ 40% lót + 40% thúc + 20% đòng.
  • Cung cấp giải pháp kỹ thuật giúp giảm thiểu 15% - 20% lượng phân đạm thất thoát ra môi trường, hạn chế sâu bệnh hại và tiết kiệm chi phí phân bón từ 1,5 đến 2,0 triệu đồng cho mỗi hecta.
  • Kế hoạch trong 12 đến 24 tháng tới là tiếp tục mở rộng khảo nghiệm quy trình bón đạm tối ưu trên các tiểu vùng đất phèn, đất mặn và tích hợp công nghệ bón phân thông minh theo thời gian thực.

Quý độc giả, cán bộ kỹ thuật và bà con nông dân hãy tham khảo chi tiết toàn văn luận văn thạc sĩ để ứng dụng ngay quy trình bón đạm tiết kiệm, nâng cao năng suất và phát triển nền nông nghiệp thâm canh lúa lai bền vững!