CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ CNC 1. Gia công điều khiển theo chương trình số 1. Khái niệm về điều khiển số Khi gia công chi tiết trên các máy công cụ thông thường, các bước gia công do người thợ thực hiện bằng tay như: điều chỉnh tốc độ vòng quay trục chính và lượng chạy dao, kiểm tra vị trí của dao cắt để đạt được kích thước cần gia công trên bản vẽ v.v…Ngược lại trên các máy công cụ điều khiển theo chương trình số, quá trình gia công được thực hiện một cách tự động. Trước khi gia công, người ta phải đưa vào hệ thống điều khiển một chương trình gia công dưới dạng một chuỗi các lệnh điều khiển.
Chương trình này mô tả đầy đủ các bước cần thiết cho quá trình gia công bằng một ngôn ngữ lập trình mà hệ thống điều khiển có thể hiểu được, cũng như có khả năng thực hiện các lệnh đó và kiểm tra chúng bằng các thiết bị đo dịch chuyển trên các bàn trượt của máy. Như vậy điều khiển số (Numerical Control-NC) là một hình thức đặc biệt của tự động hoá, mà cụ thể là các máy công cụ tự động được lập trình để thực hiện một loạt các thao tác máy ở một chế độ xác định nhằm gia công tạo ra một chi tiết thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật cho trước. Các máy công cụ hoạt động theo phương thức điều khiển số gọi là các máy NC hoặc các máy CNC. Quá trình hình thành và phát triển x Vài nét về lịch sử Điều khiển số Trước những năm 1950, trên thế giới xuất hiện hai loại hình sản xuất công nghiệp chính: (1) sản xuất loạt nhỏ và vừa, đặc trưng bởi các máy công cụ vạn năng thao tác bằng tay, năng suất thấp, các chi tiết (sản phẩm) có tính đa dạng cao; (2) sản xuất loạt lớn, thao tác tự động, sử dụng các máy công cụ được thiết kế chuyên dụng và được điều khiển tự động nhằm tạo ra một chủng loại chi tiết ở số lượng lớn, năng suất cao, chất lượng đồng nhất.
Tuy nhiên phương thức sản xuất thứ hai đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu khá lớn về máy, dao cắt, đồ gá và các thiết bị phụ trợ khác. Nó chỉ phát huy được hiệu quả kinh tế khi số lượng chi tiết sản xuất ra phải đủ lớn để bù lại chi phí ban đầu này. Thêm nữa, vì các máy hoặc hệ thống gia công tự động đã được thiết kế chuyên dụng chỉ cho một chủng loại chi tiết, nên sẽ rất khó khăn hoặc thậm chí là không thể nếu muốn điều chỉnh chúng để sản xuất ra các chủng loại chi tiết khác. Nhìn chung, các máy công cụ và các hệ thống sản xuất tự động thế hệ cũ đã không còn đáp ứng được nhu cầu mới này, vì hoạt động của chúng đều dựa trên các bộ phận cơ khí, cơ-điện, thuỷ lực và khí nén vốn khó thay đổi để thích 12 ứng được với quy trình chế tạo một chủng loại sản phẩm khác.
Yêu cầu cấp thiết đặt ra tại thời điểm này là phải có một hệ điều khiển máy công cụ mới, dựa trên các nguyên lý mới và dễ dàng thích nghi được với các biến thể trong thiết kế và các tình huống sản xuất thực tế. Hệ thống điều khiển mới này còn phải có khả năng điều khiển tự động với độ chính xác cao chuyển động của dao cắt trong khi gia công biên dạng chi tiết, đặc biệt là với các chi tiết lớn, phức tạp trong công nghiệp chế tạo ôtô và máy bay những năm 1950. Muốn vậy hệ điều khiển phải xử lý nhanh các tín hiệu thu nhận được. Sự xuất hiện của các máy tính điện tử số (digital computer) với tốc độ tính toán nhanh gấp hàng trăm lần so với trước đây đã cho phép phát triển loại hệ thống điều khiển kể trên.
Năm 1940, thông qua thực nghiệm John Parsons đã phát hiện ra dữ liệu ba chiều về vị trí dao cắt được khởi tạo từ các biên dạng chi tiết có thể lại được sử dụng để điều khiển chuyển động máy công cụ. Dựa trên ý tưởng này, William Webster cùng các kỹ sư tại Air Material Command kết luận: sự tích hợp giữa máy tính số và các cơ cấu sécvô hiệu năng cao (high-performance servo-mechanism) là cần thiết cho sự ra đời của kỹ thuật gia công chính xác biên dạng chi tiết. Tiếp đó, một bản hợp đồng về nghiên cứu kiểm chứng tính khả thi của hệ thống điều khiển máy công cụ dựa trên máy tính số đã được kí kết giữa Parsons Corporation và Phòng thí nghiệm về động cơ sécvô thuộc Viện công nghệ bang Massachussets (MIT-Mỹ) vào tháng 10/1949. Tới năm 1952, máy phay đứng đầu tiên với 3 trục NC điều khiển đồng thời nhằm gia công kích thước 3D đã được MIT chế tạo thành công, có tên gọi là máy điều khiển số - Numerical(ly) Control(led) Machine.
Máy phay NC đầu tiên này sử dụng đơn vị điều khiển lai tương tự số, có thể gia công được chi tiết với tốc độ, độ chính xác cũng như tính lặp lại cao gấp từ 3-5 lần so với các máy công cụ trước đây. Hơn nữa, nó không cần bất cứ sự thay đổi nào về bộ phận máy để tạo ra một chủng loại chi tiết mới; một chương trình NC lưu trên băng đục lỗ là thứ duy nhất cần phải chuẩn bị. Các bộ điều khiển NC đầu tiên sử dụng ống phóng chân không và rơle điện; việc điều khiển của chúng được tiến hành thông qua các cơ cấu sécvô thuỷ lực nên hoạt động kém tin cậy và thiếu chính xác. Cùng với sự phát triển của kỹ thuật điện tử, các bộ điều khiển NC thế hệ thứ 2, thứ 3 đã được xây dựng với mạch điện tử số dùng các transistor và các bảng mạch tích hợp IC riêng biệt.
Các bộ điều khiển này đòi hỏi chương trình NC phải được viết bằng các mã đặc biệt, lưu lại trên băng đục lỗ (perforated paper tape) và đưa vào bộ điều khiển thông qua bộ đọc băng lỗ (tape reader). Sự phát triển của kỹ thuật máy tính kéo theo sự giảm giá thành liên tục 13 các thiết bị phần cứng, và đến cuối những năm 1960, bộ nhớ ROM (Read Only Memory) đã được áp dụng cho bộ điều khiển NC. Một chuỗi các chỉ dẫn thao tác được lưu trữ trong bộ nhớ ROM, và có thể được truy cập, thực hiện bằng Đơn vị điều khiển máy MCU (Machine Control Unit). Cũng chính vì vậy mà bộ điều khiển NC có thể có nhiều chức năng khác mà không cần ghép nối thêm nhiều phần cứng; một chương trình NC lưu trữ là thứ duy nhất cần thiết.
Khi kích thước của các bộ vi xử lý và máy vi tính ngày càng trở nên nhỏ gọn, thì vào những năm 1970, một kỹ thuật mới đã xuất hiện nhằm tích hợp một máy tính chuyên dụng vào bộ điều khiển NC-mang tên Điều khiển Số Máy tính bằng CNC (Computer Numerical Control). Ngoài băng đục lỗ hay băng từ, chương trình NC còn có thể được lưu trữ trên đơn vị bộ nhớ của bộ điều khiển hoặc được tiếp nhận từ một máy tính riêng biệt khác. Hơn nữa, chương trình này hoàn toàn có thể được chỉnh sửa và tối ưu hoá- một tiện ích không thể có tại các bộ điều khiển thế hệ cũ. Bộ điều khiển NC còn cung cấp chẩn đoán lỗi trực tuyến về tình trạng máy và truyền tin dễ dàng với nhiều thiết bị vào-ra và các máy tính khác.
Bên cạnh sự phát triển của hệ điều khiển NC còn phải kể đến các phần mềm trợ giúp lập trình NC. Như đã trình bày ở các phần trên, dữ liệu chính xác liên quan đến các vị trí dịch chuyển dao liên tiếp trong quá trình gia công cần phải được đưa vào chương trình NC. Đối với các chi tiết có hình dạng phức tạp, việc tính toán bằng tay các số liệu này là không khả thi hoặc quá tốn kém. Sự khó khăn trong lập trình NC còn do nhu cầu dịch dữ liệu vào các mã yêu cầu bởi nhiều bộ điều khiển NC khác nhau.
Sử dụng các ngôn ngữ lập trình NC bậc cao đã đơn giản hóa công việc lập trình và chuẩn bị băng từ. Quỹ đạo cắt NC đã có thể được định nghĩa dựa trên cơ sở các thực thể hình học xác định bởi các câu lệnh đặc tả hình học APT (APT geometric definition statement). Sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật thiết kế với sự trợ giúp máy tính CAD (Computer-Aided Design) vào những năm 1960 đã cho phép các nhà thiết kế xây dựng các bản vẽ kỹ thuật trên màn hình CRT và tạo ra các mô hình hình học trên máy tính. Khi này, một thực thể hình học định nghĩa bởi hệ CAD trong phạm vi một máy tính được biểu diễn bởi một nhóm dữ liệu, các thông số của các hàm toán học hoặc các phương trình mô tả thực thể hình học đó.
Nói cách khác, những dữ liệu này chính là phần thể hiện của chi tiết trên máy tính và còn được gọi là mô hình CAD của chi tiết. Dữ liệu của mô hình CAD có thể còn được sử dụng để định nghĩa quỹ đạo cắt NC với sự trợ giúp của các phần mềm lập trình NC xác định. Vì vậy nếu một hệ CAD được cung cấp với các chức năng cần thiết cho việc biểu diễn một quỹ đạo cắt NC dựa trên mô hình CAD đó, thì chúng ta có thể xác định được một quá trình gia công NC hiển thị trên màn hình CRT. Một hệ thống như vậy 14 thường được gọi là hệ thống Thiết kế có Trợ giúp Máy tính/ Sản xuất có Trợ giúp Máy tính CAD/CAM (Computer-Aided Design/ Computer-Aided Manufacturing).
Các hệ CAD/CAM chưa được sử dụng rộng rãi cho tới trước năm 1980 do giá thành cao và độ tin cậy còn thấp của các phần mềm CAD/CAM. Hiện nay các hệ CAD/CAM tổng quan (general) và hướng NC (NC-oriented) với chất lượng tốt đã xuất hiện nhiều trên thị trường. Xu hướng phát triển chính của kỹ thuật NC hiện nay chính là tạo dựng trực tiếp chương trình dựa trên mô hình CAD, kết hợp với việc sử dụng cơ sở dữ liệu sản xuất (manufacturing database system)- gồm dữ liệu về dụng cụ cắt, máy, đồ gá, vật liệu phôi và lập kế hoạch sản xuất. x Ảnh hưởng của kỹ thuật NC tới quá trình thiết kế và chế tạo sản phẩm (1) Ảnh hưởng tới quá trình thiết kế sản phẩm Lịch sử phát triển của kỹ thuật NC cho thấy điều khiển số- như một công cụ tự động hoá- đã phát triển từ phương thức sản xuất thông thường nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về chủng loại chi tiết và sự thay đổi nhanh chóng về mẫu mã thiết kế sản phẩm.