Chương 1: Giới thiệu Tính cấp thiết của đề tài Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đồ án Công nghệ Chế tạo máy Trang 5 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. QUÁCH VĂN THIÊM Nội dung và phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Ý nghĩa của đề tài Chương 2: Tổng quan nghiên cứu đề tài Tổng quan về Tổng quan về khoa học cắt gọt gỗ Chương 3: Cơ sở lý thuyết Tìm hiểu về đặc điểm của gỗ Cách đo độ nhám bề mặt Nguyên lý cắt gọt gỗ. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Máy gia công và dụng cụ thí ngiệm Nghiên cứu ảnh hưởng của loại gỗ tới độ nhấp nhô bề mặt Nghiên cứu ảnh hưởng của độ nhô lưới dao tới độ nhấp nhô bề mặt Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều dày phoi tới độ nhấp nhô bề mặt. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Kết luận Kiến nghị Đồ án Công nghệ Chế tạo máy Trang 6 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
QUÁCH VĂN THIÊM Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP GỖ 2. Tình hình phát triển của ngành công nghiệp gỗ trên thế giới Gỗ là mặt hàng nguyên liệu có quy mô buôn bán lớn thứ ba thế giới chỉ sau dầu lửa và than đá.000 dạng sản phẩm gỗ được trao đổi, buôn bán trên thị trường thế giới. Sản phẩm gỗ được dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Những năm gần đây, nhu cầu về gỗ trên thế giới rất lớn do thương mại đồ nội thất trên thế giới và nhu cầu xây dựng tăng nhanh. Hiện nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm gỗ trên thế giới tăng đáng kể, với mức tăng tối thiểu 8%/năm. Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Thống kê Liên hiệp quốc (Comtrade Data), nhập khẩu các mặt hàng đồ gỗ của thị trường thế giới đã lên đến gần 200 tỉ đô la Mỹ năm 2002. Trong đó, nước nhập khẩu nhiều nhất là Mỹ, kế đến là Đức, Pháp, Anh và Nhật Bản.
Trước tình hình đó, ngành công nghiệp chế biến hàng mộc của thế giới cũng đã thay đổi đáng kể, đặc biệt là ở Trung Quốc và một số nước Châu Á khác như Inđonêxia, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam… đã phát triển vô cùng nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Tính đến năm 2009, Thái Lan và Indonexia vẫn là 2 nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Nhưng từ đầu năm 2010 đến nay, Việt Nam đã vượt hai quốc gia này và trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á. Năm 2014 Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gỗ đứng thứ 2 châu Á chỉ sau Trung Quốc.
Tuy nhiên mặt hàng gỗ luôn là thị trường cạnh tranh gay gắt từ các nước Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, các nước Đông Âu và Mỹ La Tinh. Riêng Trung Quốc đã có trên 50.000 cơ sở sản xuất với hơn 50 triệu công nhân và sản xuất với doanh số gần 20 tỷ USD. Tình hình phát triển của ngành công nghiệp gỗ Việt Nam Quy mô năng lực sản xuất Ngành chế biến gỗ Việt Nam đang phát triển với tốc độ rất nhanh trong những năm gần đây, vươn lên là một trong 7 mặt hàng đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng gỗ chế biến lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á. Hiện cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệp chế biến gỗ với năng lực chế biến 2,2 – 2,5 triệu mét khối gỗ tròng mỗi năm.
Đồ án Công nghệ Chế tạo máy Trang 7 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. QUÁCH VĂN THIÊM Các doanh nghiệp sản xuất và chế biến gỗ ở Việt Nam bao gồm các công ty nhà nước (374 doanh nghiệp), các công ty trách nhiệm hữu hạn và do chính sách đầu tư nước ngoài từ Singapore, Đài Loan, Malayxia, Na Uy, Trung Quốc, Thụy Điển… đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và chế biến các sản phẩm gỗ tại Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký lên đến 105 triệu USD. Đa số các công ty sản xuất và chế biến các sản phẩm gỗ tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Nam (T.P Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai…), các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (Bình Định, Gia Lai, Đắc Lắc…), một số công ty, thường là các công ty sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ, tập trung ở các tỉnh phía Bắc và khu vực đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây, Vĩnh Phúc… Thị trường Thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽ trong những năm gần đây, từ chỗ tập trung vào các thị trường trung chuyển như Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc… để tái xuất khẩu sang một nước thứ ba, đến nay đã xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường của người tiêu dùng. Trong những năm tới, ngoài việc duy trì và phát triển các thị trường truyền thống (cả thị trường trung chuyển và thị trường người tiêu dùng trực tiếp) để thông qua đó uy tín và chất lượng của sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam tiếp cận nhanh hơn tới người tiêu dùng, ngành gỗ Việt Nam sẽ tập trung phát triển mạnh một số thị trường mục tiêu, có nền kinh tế phát triển ổn định, sức mua ổn định và nhu cầu liên tục tăng, các thể chế về kinh doanh, thương mại hoàn thiện, hệ thống phân phối rộng khắp và năng động, bao gồm: EU, Mỹ, Nhật Bản, và Cộng hòa liên bang Nga.
Khách hàng chủ đạo đối với các sản phẩm gỗ Việt Nam được xác định là nhà nhập khẩu và các nhà phân phối. Thực tế năng lực tài chính tiếp thị, nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, nên nếu trực tiếp thiết lập các kênh phân phối, mạng lưới tiêu thụ và nghiên cứu nhu cầu phát triển của thị trường sẽ thực sự rất khó khăn đối với mỗi doanh nghiệp. Việc sử dụng những kênh phân phối hiện có và khả năng phát triển thị trường của các nhà phân phối và nhập khẩu tại các thị trường lớn và giải pháp hữu hiệu nhất đề tăng sản lượng thâm nhập thị trường đồng thời tiết kiệm chi phí cho công tác tiếp thị. Đồ án Công nghệ Chế tạo máy Trang 8 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
QUÁCH VĂN THIÊM Nhìn chung quy mô của các xí nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu là các xí nghiệp vừa và nhỏ, sản xuất kết hợp giữa thủ công và cơ khí. Các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng đồ gỗ công nghiệp thường có sự đầu tư mới về các trang thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất, trong khi đó đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ có hệ thống thiết bị khá lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của các đơn hàng lớn hay các thị trường yêu cầu chất lượng cao. Các sản phẩm gỗ xuất khẩu. Sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam từ chỗ chỉ là sản phẩm thô (gỗ tròn, gỗ xẻ) đã phát triển lên một trình độ gia công cao hơn, áp dụng công nghệ tẩm, sấy, trang trí bề mặt… xuất khẩu các sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm có giá trị gia tăng về công nghệ và lao động.
Có thể chia các sản phẩm gỗ xuât khẩu của Việt Nam thành 4 nhóm chính: Nhóm thứ nhất: nhóm sản phẩm đồ mộc ngoài tròi bao gồm các loại bàn ghế vườn, ghế băng, dù che nắng, ghế xích đu. làm hoàn thành từ gỗ hoặc kết hợp với các vật liệu khác như sắt, nhôm, nhựa. Nhóm thứ hai: Nhóm sản phẩm đồ mộc trong nhà bao gồm các loại bàn ghế, giường tủ, giá kê sách, đồ chơi, ván sàn. làm hoàn toàn từ gỗ hay kết hợp với các vật liệu khác như da, vải.
Nhóm thứ ba: Nhóm đồ mỹ nghệ chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên bao gồm bàn, nghế, tủ. áp dụng các công nghệ chạm, khắc, khảm. Nhóm thứ 4: Sản phẩm dăm gỗ sản xuất từ gỗ rừng mọc nhanh như gỗ keo, gỗ bạch đàn. Hiện nay, hàng gỗ chế biến xuất khẩu sang thị trường Mỹ chủ yếu là bàn ghế ngoài trời làm từ gỗ cứng trong khi hàng tới thị trường Nhật Bản và EU chủ yếu là đồ dùng trong nhà làm từ gỗ mềm.
Nguyên liệu gỗ Nguồn nguyên liệu cho sản phẩm gỗ xuất khẩu từ chỗ dựa vào rừng tự nhiên là chính đã chuyển sang dựa vào nguồn gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích rừng tự nhiên hiện có của Việt Nam là 9.44 triệu ha, trữ lượng 720. Để bảo vệ môi trường và đảm bảo sự phát triển bền vững, Chính phủ đã giới hạn khai thác gỗ từ những rừng tự nhiên tại địa Đồ án Công nghệ Chế tạo máy Trang 9 do an ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. QUÁCH VĂN THIÊM phương chỉ khoảng 300.000m3 mối năm trong giai đoạn 2000 đến 2010, củ yếu để phục vụ cho nhu cầu xây dựng, sản xuất đồ gỗ trong nước (250.000 m3) và sản xuất hàng mỹ nghệ xuất khẩu (50.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đang triển khai chương trình trồng mới 5 triệu rừng và cho đến năm 2010 Việt Nam sẽ có thêm 2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất. Để bù đắp sự thiếu hụt về nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên, hàng năm Viêt Nam phải nhập khẩu khoảng 250.000 m3 gỗ từ các nước lân cận và tăng cường sử dụng gỗ rừng trồng, ván nhân tạo để sản xuất hàng xuất khẩu. Nguồn gỗ nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á như Campuchia, Lào, Indonesia, Malaysia thường không ổn định do chính sách lâm sản của các quốc gia này luôn thay đổi, trong khi nguồn nhập khẩu từ các quốc gia khác như New Zealand, Australia, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Canada, Mỹ, Châu Phi lại cách xa về địa lý nên giá thành nguyên liệu bị đội lên cao. Nhằm chủ động chuẩn bị nguồn gỗ, bên cạnh việc trồng rừng, Việt Nam cũng đang tích cực phát triển các nhà máy sản xuất ván nhân tạo, đóng một vai trò quan trọng cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu: Nhà máy ván sợi MDF Gia Lai công suất 54.000m3 sản phẩm/năm, MDF Sơn La với công suất 15.000 m3 sản phẩm/năm, MDF Bình Thuận với công suất 10.000 m3 sản phẩm/năm, Nhà máy Ván dăm Thái Nguyên với 16.500m3 sản phẩm/năm, Thái Hòa (Nghệ An) 15.000m3 và Hoành Bồ (Quảng Ninh)3.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có khu rừng nào có chứng chỉ rừng (FSC), trong khi đó nhu cầu sử dụng các sản phẩm có chứng chỉ nguồn gốc xuất xứ ngày càng cao ở hầu hết các thị trường lớn.