MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết: Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là trung tâm phát triển kinh tế - xã hội lớn của cả nước với số dân gần 10 triệu người (bao gồm dân ngoại tỉnh) nhưng diện tích đất dành cho giao thông chiếm tỷ lệ rất ít, khoảng 6,1% so với yêu cầu từ 20% đến 25%.964 phương tiện (số liệu thống kê cuối tháng 12/2011 của Sở GTVT TP.HCM) tham gia giao thông gồm: 493.693 mô tô, xe gắn máy (chiếm khoảng 1/6 cả nước), ước tính mỗi ngày có khoảng 1 triệu xe gắn máy và ô tô mang biển số tỉnh vào thành phố làm việc, học tập đã tạo một áp lực không nhỏ cho hệ thống giao thông lạc hậu của thành phố. Với số liệu trên, phương tiện xe gắn máy chiếm phần lớn (hiện chiếm 90%) phương tiện đi lại của người dân thành phố và gây nên những hệ lụy như: tai nạn giao thông, kẹt xe, ô nhiễm môi trường,. Nhưng cũng cần phải nhìn nhận nguyên nhân nào để xe mô tô, gắn máy vẫn là lựa chọn số một cho nhu cầu đi lại của người dân? Đó là bởi tính cơ động, giá thành rẻ cộng với sự yếu kém trong vấn đề quản lý và kiểm soát như: xe máy sản xuất nhiều và dễ dàng mua bán, xe máy ngoài tỉnh lưu hành tràn lan, thủ tục cấp bằng lái dễ dàng,…vì thế tình trạng kẹt xe mà ảnh hưởng từ xe gắn máy cùng với xe ôtô (chiếm 55% diện tich mặt đường) là rất lớn. Giải pháp cơ bản để chống kẹt xe là phải chuyển từ mô hình vận tải cá nhân (chủ yếu là xe máy) sang các mô hình vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) mà hiện tại chủ yếu là xe buýt.Với những ưu điểm như: tăng khối lượng vận chuyển của VTHKCC, cung ứng một dịch vụ khá đa dạng: xe buýt dành cho sinh viên – học sinh – công nhân, người khuyết tật; thời gian hoạt động tăng lên 15, 16 giờ/ngày, thời gian giãn cách tuyến giảm từ 6-10 phút/chuyến tùy theo thời điểm)…góp phần không nhỏ trong việc giảm ách tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông, giảm ô nhiểm môi trường, hình thành nếp sống văn minh đô thị.
2 Tuy nhiên, nhà quy hoạch đã chưa khảo sát đúng nhu cầu đi lại thật sự của người dân, dẫn đến hệ lụy là làm cho khả năng đáp ứng nhu cầu của xe buýt thành phố không đạt hiệu quả cao do còn tồn tại những yếu kém trong quản lý vận hành khai thác như: + Mạng lưới tuyến: phát triển không đồng đều, quá dày đặc tại khu vực trung tâm thành phố và thưa thớt ở các khu vực ngoại vi; còn trùng lắp (do thiếu hệ thống bến bãi trung chuyển). + Đầu mối vận tải nhiều (30 đơn vị) nhưng quy mô lại nhỏ và yếu (có hợp tác xã chỉ có vài ba chục xe buýt nhỏ). + Phương tiện đã bắt đầu xuống cấp (được đầu tư từ năm 2003) và không còn phù hợp với tình hình ngày càng kẹt xe như hiện nay. + Về bến bãi: còn thiếu diện tích bãi đậu xe khi TP HCM cần 51,5 ha làm bến cho xe buýt nhưng hiện nay chỉ có 9,77 ha.
+ Trạm dừng: với hơn 4.000 điểm dừng nhưng chỉ có khoảng 10% số trạm có mái che và ghế ngồi còn lại chủ yếu là các cột, trụ và các ô sơn nên hành khách vẫn còn e ngại khi dùng xe buýt vào những lúc thời tiết thay đổi thất thường như TP HCM. + Tần suất chuyến: theo quy định tần suất tối đa là 30 phút/lượt đối với các tuyến trong nội thành; 45 phút/lượt đối với các tuyến khácnhưng trong giờ cao điểm thời gian chờ tuyến có thể lên đến 40-50 phút đối với tuyến trong nội thành. + Đặc điểm chất lượng dịch vụ: ngoài những tuyến có chất lượng phục vụ tốt như tuyến xe buýt số 1 (Bến Thành - Chợ Lớn) …còn những tuyến khác vẫn tồn tại một số khuyết điểm như: phân biệt đối xử với hành khách, bỏ trạm không đón khách, không cho hành khách xuống trạm, văn hóa ứng xử kém, đôi khi còn chạy ẩu, chạy đường tắc, dừng trả khách không đúng nơi quy định… 3 Với những mặt hạn chế nêu trên, cơ quan quản lý tuyến xe buýt TP HCM cần có những biện pháp khắc phục để tạo sự hài lòng, tăng độ tin cậy của người dân nói chung và hành khách đi xe buýt nói riêng bằng các giải pháp như : đề ra các chính sách hổ trợ về chi phí vé, sử dụng công nghệ hiện đại để quản lý như định vị GPS, thẻ thông minh, bảng hiệu điện tử thông báo xe tới trạm…giúp người dân dễ dàng tiếp cận và sử dụng xe Buýt hơn. Vì thế, trong luận văn này tác giả mong muốn phần nào giải quyết, đánh giá tính phù hợp khả năng đáp ứng nhu cầu của tuyến xe buýt tại các quận trung tâm TP HCM.2 Mục tiêu nghiên cứu: Bên cạnh những mặt tích cực mà xe Buýt mang lại cho giao thông thành phố, vẫn còn tồn tại những khuyết điểm và mục tiêu của nghiên cứu này là: - Nhằm đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu của mạng lưới xe buýt hiện tại của các quận trung tâm ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Xác định những tuyến có khả năng đáp ứng thấp, trùng lặp tuyến, không hiệu quả trong khai thác để có những điều chỉnh hiệu quả.3 Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn cho 5 quận trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh là các quận 1, 3, 5, 10 và 11. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ MẠNG LƯỚI TUYẾN XE BUÝT HIỆN TẠI Ở KHU VỰC TRUNG TÂM 2.1 Tổng quan khu vực nghiên cứu: 2.2 Tình hình kinh tế - xã hội (KT-XH): Khu vực trung tâm thành phố Hồ Chí Minh là nơi có các hoạt động về kinh tế - chính - trị xã hội lớn của thành phố. Với dân số trung bình khoảng 1.311 người gồm nhiều thành phần như người Việt (chủ yếu), người Hoa và người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại TP HCM (nguồn: Tổng cục Thống kê, Điều tra Lao động và Việc làm Việt Nam năm 2011), cộng với vị trí địa lý thuận lợi (bao bọc bởi sông ngòi, mạng lưới giao thông kết nối với các vùng kinh tế miền Đông Nam Bộ…) nên khu trung tâm thành phố có nhiều điều kiện để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế.1: Tổng hợp dân số khu vực trung tâm TP HCM. Diện Tổng số Số Dân Số Mật độ dân số Quận tích hộ Dân tộc phường (km2) (Người) (người/km ) 2 (hộ) Quận 1 10 8 187,435 24,248 49,612 Việt, … Quận 3 14 5 188,945 38,403 45,630 Việt, … Việt, Quận 5 15 4 174,154 40,785 41,451 Hoa.
Việt, Quận 10 15 6 232,450 40,638 66,130 Hoa. Việt, Quận 11 16 5 232,536 45,241 58,182 Hoa. (Nguồn: Dân số và mật độ dân số năm 2011 phân chia theo quận, huyện. Theo Cục Thống kê TP HCM).
Nhờ những tiềm lực kinh tế như bến cảng, thương mại dịch vụ và chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như nguồn thu về du lịch mà hàng năm các quận trung tâm đã đóng góp cho kinh tế của TP HCM đạt 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách nhà nước. (Nguồn: 5 http://vi.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch %C3%AD_Minh#Kinh_t.2 Tình hình mạng lưới giao thông: Do việc phát triển dân số quá nhanh, đặc biệt là do sự di dân của các tỉnh thành, địa phương lân cận, cùng với việc thiếu kinh nghiệm trong quy hoạch đô thị, sự bùng phát xe cá nhân, ý thức tham gia giao thông kém … đã gây nên tình trạng mất cân đối trong việc đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân dẫn đến tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông và ô nhiễm môi trường ngày càng cao tại khu vực trung tâm TP HCM làm ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày của người dân.1: Đường Nguyễn Đình Chiểu quận 3, xe máy phải leo lên lề đường mới có thể “thoát thân”.2: Xe ô tô chiếm hết cả đường Trần Quốc Thảo, quận 3. (Nguồn: http://sgtt.vn/Thoi-su/121508/TPHCM-ke%CC%A3t-xe-tai-khu-trung- tam-chi-la-ta%CC%A3m-tho%CC%80i.html) Hiện tại, để giải quyết vấn đề giao thông đô thị, thành phố đã và đang xây dựng mở rộng nhiều tuyến đường, cầu vượt cũng như thiết kế quy hoạch mạng lưới các tuyến đường ngầm và trên cao nhằm giảm tải cho mạng lưới giao thông trên mặt đất.3: Cầu vượt hình chữ Y tại vòng xoay Cây Gõ - quận 6. (Nguồn: http://www.vn/Home/dothi/hatang/104381/) 7 Hình 2.4: Cầu vượt Nguyễn Tri Phương – 3 Tháng 2, quận 10.
(Nguồn: http://tuoitre.vn/tuoi-tre-cuoi-tuan/566551/viet-nam-2045-%C2%A0khoi- day-dong-luc-khai-sang-de-phat-trien.2 Mạng lưới tuyến xe buýt hiện tại ở khu vực trung tâm: Được đầu tư và đi vào hoạt động từ năm 1996, bên cạnh những hạn chế thì xe buýt thành phố đã có nhiều cải tiến trong việc phục vụ vận chuyển hành khách với tổng cộng 3.208 xe của 30 đơn vị VTKHCC (Cty Xe khách Sài Gòn,Sài Gòn Star, HTX 19/5, HTX Quyết Thắng, LH HTX VTTP, HTX Quyết Tiến, HTX 28, HTX Đông Nam, HTX 26, HTX Việt Thắng…) chạy trên 148 tuyến đường, với nhiều chủng loại xe (từ 12 đến 80 chổ ngồi) và với khung giá vé khác nhau tùy theo đối tượng sử dụng (học sinh, sinh viên, người cao tuổi, …). Thông tin chi tiết tại trang mạng của Trung tâm quản lý và điều hành VTHKCC TP HCM: http://www.vn/ Hiện tại, có từ 55 đến 60 tuyến xe buýt đi qua khu vực nghiên cứu mà chủ yếu là khu vực quận 1 và quận 5 nơi có nguồn thu hút lớn các chuyến đi làm và đi học của học sinh, sinh viên.5: Các tuyến xe buýt đi qua khu vực nghiên cứu. 9 CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3.1 Khảo sát phỏng vấn, thu thập số liệu: Thông qua các biểu mẫu khảo sát để tìm nhu cầu sử dụng phượng tiện xe buýt với những thành phần như: học sinh, sinh viên, người đi làm, những người nội trợ, những người lớn tuổi…Mục đích là để xác định ma trận sức cản như: • Sự lựa chọn tuyến đi phù hợp. • Mức hao phí về thời gian 3.2 Phương pháp xác định lưu lượng giao thông theo yêu cầu: Có 2 mô hình để xác định lưu lượng giao thông: + Mô hình trực tiếp + Mô hình gián tiếp.1 Mô hình trực tiếp: [1] [2] Mô hình dự báo xây dựng trên lý thuyết 1 bước.
Công thức Quandt and Baumol xác định nhu cầu đi lại liên thành phố như sau: a4 a6 a7 ⎛ C IJK ⎞ ⎛ H IJK ⎞ ⎛ DIJK ⎞ QIJK = a0 ( PI ) ( PJ ) ( C IJ * ) ( H IJ * ) (YIJ ) ( 3.1) a1 a2 a3 a5 a8 ⎜ ⎟ ⎜ ⎟ ⎜ ⎟ ⎝ C IJ * ⎠ ⎝ H IJ * ⎠ ⎝ DIJ * ⎠ Trong đó: QIJK : Lưu lượng đi lại giữa thành phố I và J theo phương tiện K.