đặt vấn đề cần điều chỉnh pháp lý đối với tài sản ảo;15 bài viết của tác giả Phạm Văn Toàn16 có đề cập đến tên miền nhưng chủ yếu tập trung vấn đề giải quyết tranh chấp liên quan đến tên miền.2 Ngoài nước Một nghiên cứu của Bell, A., & Parchomovsky, G (năm 2005) với tiêu đề “A theory of property” (dịch: Một học thuyết về tài sản)17, bài viết đề xuất một lý thuyết thống nhất trên cơ sở xem xét đánh giá các lý thuyết thuộc các trường phái khác nhau về tài sản. Theo đó, bài viết chứng minh rằng một lý thuyết được xem là mạch lạc và toàn diện phải giải quyết được bốn câu hỏi: điều gì được bảo vệ bởi pháp luật tài sản? đối với chủ thể nào? Với những quyền lợi gì? Và cơ chế thực thi của pháp luật như thế nào? Bài viết tập trung vào giá trị vốn có của tài sản để giải quyết bốn câu hỏi này. Trong đó, với sự mở rộng của lý thuyết, bài viết cũng đề cập đến sự đáp ứng của pháp luật về tài sản đối với các giao dịch bảo đảm khi được xây dựng theo định hướng giá trị. Harold Demsetz (năm 1967) trong bài viết về “Toward a theory of property rights” (dịch: Hướng đến một học thuyết về QTS)18 đã tìm cách tạo ra một số yếu tố của một lý thuyết kinh tế về QTS.
Bài báo tìm hiểu một số vấn đề như về khái niệm và vai trò của QTS trong hệ thống xã hội; đưa ra một số hướng dẫn để nghiên cứu sự xuất hiện của QTS và tìm hiểu một số nguyên tắc liên quan đến việc kết hợp các QTS thành các nhóm cụ thể và xác định cơ cấu các QTS sẽ được liên kết trong nhóm này. Đây là một nghiên cứu được nhiều tác giả Việt Nam viện dẫn khi nghiên cứu về khái niệm tài sản và QTS trong giai đoạn hiện nay. Bài viết cũng sẽ làm cơ sở cho nghiên cứu sinh khi phân tích về khái niệm QTS trong Luận án. Sách của Jacqueline Lipton (năm 2010) về “Internet domain names, trademarks and free speech” (dịch: Tên miền internet, nhãn hiệu và tự do ngôn luận) 19 phân tích các tranh chấp liên quan đến tên miền và các yếu tố liên quan.
Tác giả nhấn mạnh rằng bởi vì các tên miền chỉ có thể được đăng ký với một người mỗi lần, chúng không được 14 Thuỵ Anh, (2006), “Tài sản ảo và phương án “không hành động”, Tạp chí Thế giới điện tử [https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/tai-san-ao-va-phuong-an-khong-hanh-dong-113/] (cập nhật ngày 10/7/2018). 15 Trương Hồ Hải, “Hoàn thiện quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 liên quan đến công nhận và bảo hộ tài sản ảo ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, [http://www.vn/Hom/Xay-dung-nha-nuoc-phap- quyen/2015/33742/Hoan-thien-quy-dinh-cua-Bo-luat-Dan-su-nam-2015-lien. 16 Phạm Văn Toàn, (2015), “Tên miền và sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, (04), tr. 17 Abraham Bell & Gideon Parchomovsky, (2005), “A theory of property”, Cornell Law Review, Vol 90, tr.
18 Harold Demsetz, tlđd (7), tr. 19 Jacqueline Lipton (2010), Internet domain names, trademarks and free speech, Edward Elgar Publishing. 12 đăng ký bởi một người khác. Tác giả cho rằng các loại xung đột về tên miền đã không được giải quyết hiệu quả theo các quy định hiện hành, từ đó đưa ra các cải cách quy định có thể có.
Quyển sách cho ta biết được rõ những quy định liên quan đến tên miền của pháp luật Mỹ cũng như thực tiễn tranh chấp liên quan đến tên miền ở quốc gia này. Đó là cơ sở để so sánh đối chiếu với các quy định về tên miền ở Việt Nam trong luận án của nghiên cứu sinh. Nghiên cứu của Charles Blazer (năm 2006) về “The five indicia of virtual property” (dịch: Năm dấu hiệu của tài sản ảo) 20, bài viết đặt trong khung cảnh nước Mỹ, tác giả trình bày năm dấu hiệu có thể xem xét để xác định tài sản ảo trong thời đại công nghệ thông tin, theo đó các toà án có thể tham khảo để giải quyết các tranh chấp liên quan đến loại tài sản này, trên cơ sở cân nhắc lợi ích của các bên như nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng. Năm dấu hiệu được đề cập đến trong bài viết là sự cạnh tranh, tính lâu dài, kết nối liên thông, thị trường thứ cấp, giá trị gia tăng theo người sử dụng.
Các tiêu chí được nêu ra trong bài viết có thể làm cơ sở để nghiên cứu sinh tham khảo, phân tích khi đề xuất về khái niệm về tài sản ảo nói chung, tài sản ảo có thể là TSBĐ nói riêng. Một nghiên cứu khác như nghiên cứu của tác giả Jeffrey A. Cohen (năm 2005) với tiêu đề “Intangible assets -Valuation and Economic Benefit” (dịch: Giá trị và lợi ích kinh tế của tài sản vô hình)21 đã chỉ ra, mô tả và phân tích các tài sản vô hình của một doanh nghiệp mà thông thường không dễ nhìn thấy và cũng không thể hiện trong số dư của doanh nghiệp. Nghiên cứu là sự kết hợp các yếu tố về luật, kinh tế, tài chính và kế toán để xác định loại tài sản này của doanh nghiệp và qua đó đã đóng góp đầy sáng tạo đối với khái niệm tài sản vô hình.3 Đánh giá Các nghiên cứu về QTS được tiếp cận ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau.
Xét dưới góc độ QTS là một loại tài sản, có hai dạng nghiên cứu: một là, thừa nhận mặc nhiên QTS là một loại tài sản trong các loại tài sản dựa theo pháp luật thực định của Việt Nam tại Điều 105; hai là, đánh giá cách phân loại tài sản của Việt Nam qua định nghĩa tài sản tại Điều 105 và kết luận quy định QTS ở Việt Nam không giống nhiều quốc gia trên thế giới, các quốc gia trên thế giới thường phân loại tài sản thành vô hình và hữu hình. Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước cho thấy trong xã hội công nghệ số đã xuất hiện những tài sản trên nền tảng công nghệ, dạng vô hình. Xét về yếu tố kinh tế có thể xem là QTS nhưng sự thừa nhận hay hành lang pháp lý điều chỉnh về các 20 Blazer, C., (2006), “The five indicia of virtual property”, Pierce L. Cohen (2005), Intangible assets -Valuation and Economic Benefit, Wiley, New Jersey, Canada.
13 dạng tài sản này ở Việt Nam vẫn còn sơ sài. Chẳng hạn, các tài sản ảo nói chung, tiền kỹ thuật số, tên miền trên internet,.4 Nội dung cần tiếp tục nghiên cứu Làm rõ những vấn đề lý luận về QTS như khái niệm, đặc trưng của QTS, qua đó giúp phân biệt QTS và các quyền khác không là QTS, đặc biệt là các quyền mang nội dung kinh tế.2 Các công trình nghiên cứu về bảo đảm nghĩa vụ tại các ngân hàng thương mại 1.1 Trong nước Bảo đảm nghĩa vụ là một chế định có nguồn gốc từ pháp luật dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, khi gắn liền với hoạt động tín dụng NH thì bảo đảm nghĩa vụ còn chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành, tức lĩnh vực NH. Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về bảo đảm nghĩa vụ trong hoạt động cấp tín dụng của NH có thể kể đến là: Sách “Thị trường vốn nợ, luật và hợp đồng” của Phạm Hồng Năng (năm 2016) đã nêu lên mối quan hệ cũng như vai trò của TSBĐ đối với việc cải thiện rủi 22 ro tín dụng NH.
Tác giả cũng dành hẳn chương 5 để phân tích về TSBĐ, cam kết không thực hiện, thứ tự ưu tiên và bảo lãnh. Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Xuân Bang (năm 2018): “Pháp Luật về an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng”23. Nghiên cứu đã chỉ ra thực tiễn mất an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Từ đó, nghiên cứu cũng khẳng định sự quan trọng của hoạt động bảo đảm tiền vay và đưa ra một số kiến nghị để khoản vay được an toàn.
Luận án tiến sĩ luật học của Lương Khải Ân (năm 2019): “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng cho vay trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng”24. Một trong các nội dung là nghiên cứu bảo đảm quyền tiếp cận tín dụng của cộng đồng; tăng cường mức độ an toàn, hạn chế rủi ro phát sinh từ hợp đồng cho vay đối với hệ thống tín dụng ngân hàng. Ở khía cạnh bảo đảm nghĩa vụ, tác giả cũng phân tích mối quan hệ giữa hợp đồng vay và hợp đồng bảo đảm, cũng như vấn đề xử lý QTSBĐ nhằm hướng tới hạn chế rủi ro tín dụng từ hoạt động cho vay. 22 Phạm Hồng Năng (2016), Thị trường vốn nợ, luật và hợp đồng, NXB Công thương, Hà Nội.
23 Nguyễn Xuân Bang (2018), Pháp Luật về an toàn trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. 24 Lương Khải Ân (2019), Pháp luật Việt Nam về hợp đồng cho vay trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. 14 Luận án tiến sĩ luật học của Trương Thị Tuyết Minh (năm 2022): “Pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”25. Nghiên cứu hướng đến việc tìm kiếm các kiến nghị và giải pháp pháp lý để khai thông hiệu quả chức năng và giá trị kinh tế của TSBĐ là động sản, qua đó bảo vệ quyền lợi của bên nhận bảo đảm là các NHTM trên cơ sở tiếp cận tín dụng NH cho khách hàng, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên bảo đảm và các chủ thể khác trong mối quan hệ với động sản.
Nghiên cứu đã dựa trên các lý thuyết pháp lý và kinh tế, kết hợp phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo đảm nghĩa vụ bằng động sản để đáp ứng cho hướng nghiên cứu trên, gồm các nội dung pháp lý: hiệu lực của giao dịch bảo đảm bằng động sản, về hiệu lực đối kháng, về quyền ưu tiên và xử lý động sản bảo đảm. Bài viết “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở liên bang Nga và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của Nguyễn Thị Thu Thủy (năm 2017)26 đã phân tích pháp luật của Liên Bang Nga về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của TCTD, so sánh với pháp luật Việt Nam về vấn đề này và rút bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Các kiến nghị liên quan chủ yếu đến bảo đảm nghĩa vụ như: kiến nghị liên quan đến các biện pháp bảo đảm, xử lý TSBĐ.