phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận chia làm 3 chương:. Thực trạng khai thác cải lương để phục vụ du lịch ở Cần Thơ Chương 3. Một số đề xuất về giải pháp phát triển nghệ thuật cải lương để phục vụ du lịch ở Cần Thơ. 5 Trần Thị Ánh – VH 1002 Tìm hiểu nghệ thuật cải lương và giải pháp phát triển để phục vụ du lịch ở Cần Thơ CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Cơ sở lý luận về loại hình nghệ thuật cải lƣơng 1. Khái niệm cải lƣơng Cải lƣơng là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ. Giải thích chữ “cải lương” theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: “cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn”, (so với hát bội), thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản. Từ xưa ở Việt Nam không có lối diễn tuồng nào khác hơn là hát chèo hay hát tuồng ở miền Bắc và hát Bội ở miền Trung và miền Nam.
Đến năm 1917 , khi cải lương ra đời , người ta nhận thấy điệu hát này có vẻ tân tiến hơn điệu hát bội , nên cho đó là một việc cải thiện điệu hát xưa cho tốt đẹp hơn. Vì lẽ ấy người mình dùng hai tiếng “ Cải Lương” để đặt tên cho điệu hát mới mẻ này ( Tiếng Cải Lương gốc ở câu “Cải Lương phong tục”, hoặc “Cải biến kỳ sự, sử ích tự thiên lƣơng” mà ra ) 1. Lịch sử hình thành sân khấu cải lƣơng Nghệ thuật sân khấu cải lương ra đời trên mảnh đất Nam Bộ - cụ thể hơn là miền đồng bằng sông Cửu Long, trong vài thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Cách đây khoảng 3 thế kỷ, Nam Bộ là một vùng đất mới, các lưu dân Việt trong quá trình Nam tiến đã tới khai phá và định cư lại ở vùng đất màu mỡ này, truyền thồng văn hoá cũng theo chân họ tới đây, tiếp tục phát triển trong hoàn cảnh mới đã tạo nên những nét văn hoá đặc sắc.
Đời sống âm nhạc của người dân Nam Bộ cũng phát triển trên cơ sở của nền văn hoá ấy, do vậy sinh hoạt ca hát 6 Trần Thị Ánh – VH 1002 Tìm hiểu nghệ thuật cải lương và giải pháp phát triển để phục vụ du lịch ở Cần Thơ của cư dân ở đây rất phong phú đa dạng. Đầu thế kỷ XX, nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của người dân trên vùng đất mới ngày một tăng, những hình thức sân khấu trước đó chưa đáp ứng được (như nói thơ, nói truyện, hát bội.), đòi hỏi phải có một hình thức sân khấu mới, về nội dung tuồng tích gần gũi hơn với cuộc sống, về nghệ thuật phải thoả mãn được nhu cầu nghe ca và xem hát của khán giả. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội a. Kinh tế Kinh tế công nghiệp lạc hậu và nhỏ bé, người Pháp tập trung phát triển buôn bán ở các đô thị, liên kết vơí giai cấp tư sản mở một số đồn điền, các xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, một vài nhà máy công nghiệp nhẹ.
Nhưng sự thông thương và kinh tế công nghiệp nhẹ phát triển tạo thành những đô thị dân cư, có nhu cầu văn hóa, nếp sống mới. Qua hai cuộc khai thác Đông Dương làm thay đổi bộ mặt xã hội Việt Nam chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp phong kiến sang nền kinh tế tư bản thành thị, tạo điều kiện thay đổi về tư tưởng và quan hệ xã hội. Các chủ đồn điền Pháp - Việt ra sức bóc lột lao động sống, tận thu lao động giản đơn của tá điền. Nhưng sự phát triển các đồn điền tạo bước ngoặt đổi mới nông nghiệp, chuyển đổi giống cây trồng, ra đời các đồn điền mới: chè, hạt tiêu, cà phê, cam, dừa.
Sự phát triển nông nghiệp lúa và cây công nghiệp đã ra đời các ngành công nghiệp như chế biến, khai thác mỏ, khai khoáng, than đá. phát triển nội thương, ngoại thương và giao thông vận tải tạo thành cái trục cấu trúc kinh tế xã hội mới: Công nghiệp – Nông nghiệp - Nội ngoại thương – Giao thông vận tải. Sự đổi mới xã hội nông thôn Việt Nam, tạo thành những khu vực dân cư văn hóa mới. Đây là bước phát triển của cơ cấu kinh tế, xã hội Việt Nam sau hai lần khai thác thuộc địa của Pháp.
7 Trần Thị Ánh – VH 1002 Tìm hiểu nghệ thuật cải lương và giải pháp phát triển để phục vụ du lịch ở Cần Thơ Nhà nước vừa khai thác là bóc lột, tận thu các sản vật và nhân lực Việt Nam, nhưng mặt khác đã đầu tư kỹ thuật, cơ cấu kinh tế mới, làm thay đổi nền kinh tế nông nghiệp dần thoát khỏi chế độ phong kiến lạc hậu, bảo thủ, kém phát triển, hướng tới văn minh. Tình hình văn hóa tƣ tƣởng xã hội Việt Nam Sau khai thác thuộc địa lần thứ hai, do còn nhiều hạn chế về phát triển kinh tế, nhất là công nghiệp nặng nhưng đã làm thay đổi nền tảng kinh tế Việt Nam, xuất hiện nền kinh tế nhiều ngành có cấu trúc mới, hình thành mối quan hệ hữu cơ giữa các ngành kinh tế, ra đời những thị trấn, thị xã, thành phố đông dân cư, từng bước thành thị hóa đời sống nhân dân. Những khu dân cư mới, mô hình sản xuất, quan hệ xã hội mới, dân trí nâng cao, phổ biến chữ quốc ngữ thay cho chữ Hán, chữ Nôm. Sự phát triển chữ quốc ngữ khai sáng dân chủ cho nhận thức trí tuệ, phổ biến khoa học kỹ thuật, mở cửa tiếp nhận các hình thái văn học nghệ thuật Pháp vào nước ta.
Vào những năm đầu thế kỷ XX, khoảng năm 1919 – 1920 là sự gặp gỡ hai giá trị văn hóa: văn hóa Nho giáo và văn hóa ngoại nhập. Những biến đổi kinh tế, văn hóa tư tưởng đang lay động xã hội thuộc địa mà người Pháp muốn giữ yên để cai trị. Những tư tưởng văn hóa tiến bộ xã hội đang biến thành sức mạnh, là động lực phát triển các mặt đời sống tinh thần của nhân dân. Những phong trào cải cách xã hội xuất hiện như: khai trí, duy tân.
kéo theo sự cải cách văn hóa nghệ thuật, có sự châm ngòi do các trào lưu văn hóa nghệ thuật nước ngoài tràn vào nước ta, trên mảnh đất Nam bộ bao giờ cũng là sự mở cửa với phương Tây từ xa xưa và cả hôm nay. Sự ra đời nghệ thuật cải lƣơng 8 Trần Thị Ánh – VH 1002 Tìm hiểu nghệ thuật cải lương và giải pháp phát triển để phục vụ du lịch ở Cần Thơ Có thể mô hình hoá sự ra đời của nghệ thuật cải lương như sau: Nhạc tế lễ (nhạc cung đình Huế) → Đờn ca tài tử → Ca ra bộ → Cải lƣơng Từ nhạc cung đình Huế: Ngược dòng lịch sử, triều đại nhà Nguyễn đặt kinh đô ở Huế nên gọi là Cung đình Huế. Năm 1802, cơ bản nhà Nguyễn thống nhất được Sơn hà xã tắc và trị vì thiên hạ, nhưng chỉ cũng cố địa vị thống trị của chế độ phong kiến theo kiểu Quân Chủ. Cho nên trong nội triều được tổ chức Nhạc cung đình nhằm phục vụ cho Vua chúa, do đó mà hình thành dòng Nhạc lễ cung đình.
Các nghệ nhân hồi ấy được tuyển chọn từ dân thường vào phục vụ cung đình, rồi từ cung đình ra thường dân những người có năng lực âm nhạc. Những nghệ nhân từ miền Trung cùng một số quan nhạc theo di dân vào Nam “khẩn hoang lập ấp”. Thêm vào đó là các sĩ tử trong Nam ra kinh đô học hành, thi cử cũng đem về ít nhiều vốn liếng của dòng âm nhạc này. Vùng đất Nam bộ vốn là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa khác nhau.
Người Hoa Minh Hương (Trung Quốc) ủng hộ nhà Minh chống nhà Thanh, chạy lánh nạn vào Nam. Những người Khmer chống vương quyền Nam Vang, người Chăm rời miền Trung vào Châu Đốc - Long Xuyên và các lính thú, tội đồ bị triều đình cưỡng bách vào Nam mở đất … Đời sống, tính cách của họ hòa vào ngoại cảnh thiên nhiên sản sinh ra những ca dao, hò, lý…, các nghệ nhân nhạc lễ ngoài việc phục vụ đình đám, lễ hội, hàng năm không bao nhiêu nên có rất nhiều thời gian nhàn rỗi. Từ đó họ lấy nhạc để làm vui, đờn chơi và truyền cho những ai có tâm hồn yêu nó. Từ lao động, phát minh ra sáng tạo, các nghệ nhân kết hợp với âm điệu ca dao, hò, lý,… trên cơ sở thang âm của nhạc lễ (Ngũ cung) và sáng chế ra dòng âm nhạc tài tử, rồi đặt lời ca.
Đến đờn ca tài tử 9 Trần Thị Ánh – VH 1002 Tìm hiểu nghệ thuật cải lương và giải pháp phát triển để phục vụ du lịch ở Cần Thơ Buổi đầu, khoảng cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các nhóm đờn ca được thành lập cốt để tiêu khiển, để phục vụ trong các buổi lễ tại tư gia, như đám tang, lễ giỗ, tân hôn.nhưng chưa hề biểu diễn trên sân khấu hay trước công chúng. Ca nhạc tài tử mang tính chất “thính phòng” các ban tài tử và những người tham dự chỉ ngồi trong một không gian tương đối hẹp, đàn ca và thưởng thức lẫn nhau. Đến ca ra bộ: Đỉnh cao của phong trào ca nhạc tài tử là “ca ra bộ”, “giai nhân tài tử” không đơn thuần là hát theo lời nhạc và dòng nhạc, mà nghệ thuật được nâng cao hơn một bật là vừa ca vừa ra động tác để biểu diễn (ra bộ), chuyển tải ý nghĩa của các bài, bản. Các động tác này là tay, chân, ánh mắt, nụ cười.
Cải lƣơng : Khi hình thức ca ra bộ chín muồi cũng là lúc khai sinh ra Cải lương. Cải lương khác với đờn ca tài tử và ca ra bộ ở chỗ có sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản. Đặc điểm của nghệ thuật cải lƣơng Bố cục Theo cách bố cục của kịch nói, nghĩa là vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch. Càng về sau thì bố cục của các vở cải lương, kể cả các vở viết về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch nói.
Đề tài và cốt truyện Các vở cải lương ngay từ đầu đều khai thác các truyện Nôm như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên hoặc các câu truyện trong khung cảnh xã hội Việt Nam.