Chương 1: Một số vấn đề chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Chương 2: Phân tích năng lực cạnh tranh của mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam 5 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG NÔNG SẢN 1. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm 1. Các quan niệm về cạnh tranh Lý luận cạnh tranh được nhiều tác giả nghiên cứu và trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất, cụ thể và rõ ràng về cạnh tranh.
Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác. Nếu chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào. Như vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh có thể khơi dậy được sự nỗ lực chủ quan của con người, làm tăng của cải của nền kinh tế quốc dân [56]. Marx cho rằng cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Những cuộc ganh đua giữa các nhà tư bản diễn ra dưới ba góc độ: cạnh tranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tư bản nhằm thu được giá trị thặng dư siêu ngạch; cạnh tranh chất lượng thông qua nâng cao giá trị sử dụng hàng hoá; cạnh tranh giữa các ngành thông qua việc gia tăng tính lưu động của tư bản nhằm phân chia giá trị thặng dư. Ba góc độ cạnh tranh cơ bản này diễn ra xoay quanh việc quyết định giá trị, thực hiện giá trị và phân phối giá trị thặng dư. Như vậy cạnh tranh kinh tế là sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá, là sự đối chọi giữa những người sản xuất hàng hoá dựa trên những thực lực kinh tế của họ [26]. 6 z Theo cuốn từ điển bách khoa của Liên Xô thì cạnh tranh là cuộc đấu tranh đối kháng giữa các nhà sản xuất hàng hoá nhằm giành điều kiện thuận lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá nhằm thu lợi nhuận tối đa [52].
Theo cuốn từ điển kinh doanh ở Anh, cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình [53]. Theo từ điển bách khoa Việt Nam, cạnh tranh được định nghĩa là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất [54]. Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản và là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam trong quá trình đổi mới nền kinh tế đã có sự thay đổi về tư duy, quan niệm và cách thức đối xử với cạnh tranh.
Trong văn kiện Đại hội Đảng VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và văn minh. Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau" [14]. Như vậy, cạnh tranh có thể hiểu là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hoá cụ thể nào đó nhằm để giành giật khách hàng, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hoá và thu được lợi nhuận cao, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Cạnh tranh có thể đem lại lợi ích cho cá nhân, doanh nghiệp này nhưng gây thiệt hại cho cá nhân, doanh nghiệp khác.
Song xét dưới giác độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực, là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển được, các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, phải luôn luôn nâng cao sức cạnh tranh của mình để 7 z giành được ưu thế tương đối so với đối thủ. Doanh nghiệp nào không sẵn sàng cho sự cạnh tranh hoặc tự thoả mãn với bản thân thì sẽ loại mình ra khỏi cuộc chơi. Các quan niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nếu hiểu cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường thì có cạnh tranh giữa các cá nhân, các doanh nghiệp và cạnh tranh trong nền kinh tế.
Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành được lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể, được gọi là sức cạnh tranh của chủ thể đó hoặc năng lực hay khả năng cạnh tranh của chủ thể đó. Khi muốn phản ánh khả năng duy trì được vị trí của một hàng hoá trên thị trường, mà hàng hoá này thuộc một doanh nghiệp, một nước nào đó thì người ta dùng thuật ngữ "năng lực cạnh tranh của hàng hoá", đó cũng là chỉ mức độ hấp dẫn của hàng hóa đó đối với khách hàng. Như vậy, khi nghiên cứu sức cạnh tranh của một mặt hàng nào đó, cần phải nghiên cứu dưới các giác độ khác nhau như cạnh tranh ở giác độ quốc gia, cạnh tranh ở giác độ ngành hay doanh nghiệp.
Cho đến nay sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối và đã có nhiều bài viết, nhiều cuộc thảo luận về vấn đề này nhưng vẫn chưa có những khái niệm thống nhất về sức cạnh tranh ở các giác độ khác nhau. Năng lực cạnh tranh của một loại sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ nào đó trên thị trường trong nước và quốc tế là sự thể hiện tính ưu việt hay tính hơn hẳn của nó cả về định tính và định lượng với các chỉ tiêu như: chất lượng sản phẩm, thương hiệu, mức độ vệ sinh công nghiệp hay vệ sinh thực phẩm, khối lượng và sự ổn định chất lượng của sản phẩm, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm, môi trường thương mại, mức độ giao dịch và uy tín của sản phẩm trên thị trường, sự ổn định về môi trường kinh tế vĩ mô và chính sách thương mại như thuế, tỷ giá, tín dụng, mức độ bảo hộ và chỉ tiêu về giá thành và giá cả sản xuất. Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thì các quan hệ thương mại cũng phát triển, theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi hàng hoá. Sự mở rộng trao đổi thuơng mại tác động trở lại sản xuất của mỗi nước theo cả 8 z hai chiều: kích thích gia tăng khối lượng sản phẩm một số hàng hoá được thị trường chấp nhận (được người mua trả giá) và hạn chế sản xuất những mặt hàng mà thị trường không chấp nhận (người mua không trả giá).
Như vậy, mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ được người tiêu dùng phản ứng với mức độ cao thấp khác nhau. Sự phản ứng của người tiêu dùng thể hiện qua việc mua hay không mua sản phẩm đó. Đây là biểu hiện tổng quát cuối cùng về sức cạnh tranh của sản phẩm đó. Nói cách khác, cạnh tranh giữa các sản phẩm trên một thị trường là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn người tiêu dùng của các sản phẩm đối với khách hàng trên một thị trường cụ thể và trong một thời gian nhất định.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có thể gắn với một doanh nghiệp, một quốc gia cụ thể hoặc xét chung cho tất cả các quốc gia, các doanh nghiệp. Đối với một doanh nghiệp hoặc một ngành, một sản phẩm, năng lực cạnh tranh gắn với mục tiêu duy trì sự tồn tại và thu được lợi nhuận trên thị trường và nó thể hiện bằng lợi thế cạnh tranh của sản phẩm. Tuy nhiên năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Một quốc gia hay một nền kinh tế có sức cạnh tranh tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo dựng được năng lực cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới.
Nói cách khác, năng lực cạnh tranh quốc gia là một nguồn hình thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, nó sẽ góp phần vào việc nâng cao thu nhập và tác động tích cực đến môi trường cạnh tranh và do đó nó góp phần vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Phân loại năng lực cạnh tranh theo cấp độ Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp. Năng lực cạnh tranh được chia theo các cấp độ khác nhau, bao gồm ba cấp độ: - Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia xét trong quan hệ giữa các quốc gia trên phạm vi toàn cầu.
9 z - Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/công ty xét trong quan hệ giữa các tập đoàn công ty, giữa các ngành hàng. - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá xét trong quan hệ với các sản phẩm cùng loại hoặc có khả năng gây tranh chấp trên thị trường trong và ngoài nước. Ba cấp độ năng lực cạnh tranh trên có mối quan hệ tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, khi xem xét đánh giá và đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cần thiết phải đặt nó trong mối tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh.
Một mặt, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp của một nước tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó.