CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ THẺ ATM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ ATM của ngân hàng thương mại 1.1 Dịch vụ ATM của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm thẻ ATM và dịch vụ ATM Thẻ ATM Thẻ ATM là một loại thẻ theo chuẩn ISO 7810, bao gồm thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, dùng để thực hiện các giao dịch tự động như kiểm tra tài khoản, rút tiền hoặc chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, mua thẻ điện thoại… từ máy rút tiền tự động (ATM) (Nguyễn Quang Huy, 2007). Loại thẻ này cũng được chấp nhận như một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại các điểm thanh toán có chấp nhận thẻ. Thẻ thường thiết kế với kích thước chữ nhật tiêu chuẩn để phù hợp với khe đọc thẻ, có kích thước thông thường là 8,5cm x 5,5cm. Trên bề mặt thẻ dập nổi tên chủ thẻ, số thẻ, băng giấy để chủ thẻ ký tên, và băng từ (thẻ từ) hoặc chip (thẻ chip) lưu trữ thông tin về tài khoản đã được khách hàng đăng ký tại ngân hàng nào đó.
Theo Nguyễn Thị Thu Thảo (2008): Thẻ ATM trong thực tế còn là tên gọi khái quát, chung nhất cho các loại thẻ sử dụng được trên máy giao dịch tự động (ATM), bao gồm trong nó cả các loại thẻ tín dụng (như thẻ Visa, MasterCard, thẻ American Express…). Thẻ tín dụng dựa trên yếu tố hạn mức tín dụng, theo đó tùy loại thẻ và tùy khách hàng, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định. Hạn mức tín dụng là số tiền tối đa chủ thẻ được chi tiêu trong một khoảng thời gian nào đó (1 tháng, 45 ngày hay hơn). Khách hàng có thể rút số tiền được ngân hàng cấp đó trong thời hạn nhất định và buộc phải thanh toán khi đáo hạn.
Nếu quá hạn mức tín dụng chưa thanh toán kịp ngân hàng sẽ tính lãi suất cao. Tổng hợp những quan điểm nêu trên về thẻ ATM, tác giả có thể khái quát khái niệm về thẻ ATM như sau: Thẻ ATM là loại thẻ ghi nợ dùng để rút tiền mặt tại máy ATM hoặc mua sắm không sử dụng tiền mặt thông qua các POS, để sử dụng thẻ chủ thẻ phải có ký quỹ trong tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được ngân hàng cấp tín dụng thấu chi. Thẻ ATM sử dụng công nghệ băng từ, trên đó các thông tin đã 6 được mã hóa. Mọi giao dịch của khách hàng tại máy ATM đều được sử dụng trên cơ sở mã hóa cá nhân (số pin) chỉ chủ thẻ biết và có thể thay đổi tại máy ATM.
Dịch vụ ATM Dịch vụ ATM là một dịch vụ ngân hàng hiện đại phát triển cùng với ngân hàng điện tử và thương mại điện tử mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng sử dụng thẻ ATM nhằm giúp khách hàng có thể chi tiêu một cách thuận tiện, an toàn, chủ động mà không dùng đến tiền mặt (Kumbhar, 2011). Dịch vụ ATM bao gồm các loại dịch vụ sau: Dịch vụ thanh toán; Dịch vụ rút tiền mặt; Dịch vụ truy vấn thông tin; Dịch vụ khác (Nguyễn Quang Huy, 2007).2 Tính năng và lợi ích của thẻ ATM * Tính năng của thẻ ATM Rút tiền mặt: Khách hàng có thể rút tiền mặt tại bất cứ điểm đặt máy ATM nào của ngân hàng phát hành thẻ mà không cần trực tiếp đến ngân hàng. Hiện tại, các ngân hàng đã liên kết với nhau để cho phép khách hàng có thể rút tiền mặt tại các điểm đặt ATM của các ngân hàng khác nhau. Tùy chính sách của ngân hàng và các hạng thẻ khác nhau mà ngân hàng có thể rút giá trị tiền mặt tối đa hoặc tối thiểu trong 1 lần (Mwatsika, 2014).
Xem số dư: Hệ thống máy ATM cho phép khách hàng xem số dư tài khoản (tài khoản thanh toán hoặc tài khoản tiết kiệm) của mình vào bất cứ thời điểm nào. Đồng thời, khách hàng có thể nhận được hóa đơn từ máy ATM để biết được số dư tài khoản hiện tại, tạo thuận lợi cho việc quản lý tài khoản (Nguyễn Thị Thu Thảo, 2008). Đổi số pin: Thẻ ATM được sản xuất trên công nghệ băng từ, được bảo mật bằng một mã số sử dụng được gọi là số pin chỉ chủ thẻ hợp pháp được biết. Khi nghi ngờ bị lộ số pin, khách hàng được quyền thay đổi số pin nhằm tăng cường an ninh cho tài khoản cũng như số tiền gửi vào ngân hàng (Nimako, 2013).
Chuyển khoản: Sử dụng thẻ ATM, khách hàng có thể chuyển tiền giữa các tài khoản trong cùng hoặc ngoài hệ thống của ngân hàng phát hành thẻ. Tính năng này của thẻ ATM giúp máy ATM đóng vai trò là “ngân hàng không người”. Thanh toán hóa đơn: Ngoài chức năng chuyển tiền, khách hàng có thể sử dụng thực hiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho nhà cung cấp như: thanh toán tiền 7 hàng hóa đã mua, thanh toán tiền điện thoại, thanh toán hóa đơn điện, nước, thanh toán tiền Internet, thanh toán phí bảo hiểm và nhiều dịch vụ khác (Nguyễn Quang Huy, 2007). Truy vấn tài khoản: Khách hàng sử dụng thẻ ATM để thực hiện xem thông tin của ngân hàng như: lãi suất, tỷ giả, giá cả hàng hóa (vàng)… * Lợi ích của thẻ ATM Lợi ích đối với chủ thẻ là cá nhân: Việc sử dụng thẻ ATM giúp tiết kiệm thời gian và tránh được thủ tục phiền hà do không phải ra ngân hàng rút tiền mặt.
Giảm thiểu được rủi ro do việc sử dụng tiền mặt mang lại như: tiền giả, thất thoát, bị mất cắp khi lưu thông… (Mwatsika, 2014). Bất cứ khi nào có nhu cầu tiêu dùng, mua sắm hàng hóa, dịch vụ khách hàng có thể sử dụng thẻ ATM để thanh toán hóa đơn tại các máy POS hoặc rút tiền mặt tại cây ATM của ngân hàng. Khi chưa có nhu cầu sử dụng, tiền trong tài khoản thẻ ATM vẫn tiếp túc sinh lời với mức lãi suất không kỳ hạn. Chủ thẻ có thể chủ động thực hiện mọi giao dịch trên máy ATM, trên tài khoản giao dịch online, quản lý chi tiêu một cách hiệu quả và kinh tế.
Lợi ích đối với chủ thẻ là doanh nghiệp: Khi trả lương cho công nhân viên qua tài khoản ATM, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp trong việc vận chuyển tiền từ ngân hàng về doanh nghiệp và tổ chức phát lương, giảm áp lực cho công tác kế toán tài vụ của doanh nghiệp (Nguyễn Thị Thu Thảo, 2008). Lợi ích đối với ngân hàng: Các ngân hàng sẽ có cơ hội tự động hóa các giao dịch và nâng cao chất lượng dịch vụ, mọi giao dịch giản đơn tại quầy được chuyển sang tự động tại máy ATM và giao dịch online (Nimako, 2013). Trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ ATM, thay vì phải mua hoặc xây thêm trụ sở hoặc chi nhánh, ngân hàng sẽ đầu tư trang bị máy ATM giúp giảm chi phí thiết bị, nhà cửa, chi phí vận hành…giúp tăng hiệu quả kinh doanh tạo cơ hội để ngân hàng thu được lợi nhuận từ việc bán chéo các sản phẩm. Lợi ích đối với xã hội: Việc sử dụng thẻ ATM rộng rãi trong công chức giúp giảm bớt đáng kể lượng tiền mặt trong lưu thông, góp phần khuyến khích tiêu dùng, hạn chế tình trạng lạm phát nhằm phát triển kinh tế đất nước.3 Vai trò của dịch vụ ATM Đối với Ngân hàng * Là nguồn thu nhập từ dịch vụ: Khi cung cấp dịch vụ ATM, ngân hàng có nguồn thu từ các loại phí như phí phát hành, phí thường niên, phí giao dịch,….
* Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng: Khi triển khai dịch vụ ATM, các ngân hàng phải nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống thanh toán do đó ngân hàng có điều kiện tiếp cận với những công nghệ tiên tiến trên thế giới rút ngắn khoảng cách chênh lệch về công nghệ khi hội nhập và góp phần nâng cao trình độ của nhân viên nghiệp vụ thẻ nói riêng và ngân hàng nói chung. * Tăng kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng: Việc phát triển hệ thống máy ATM/POS là phát triển kênh phân phối dịch vụ ATM cho ngân hàng. Kênh phân phối này không bị hạn chế giờ làm việc và có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng 24/24h, giúp khách hàng giao dịch nhanh chóng, giảm bớt giao dịch tại quầy (Nimako, 2013). * Mở rộng thị trường và quan hệ khách hàng: Tham gia thanh toán dịch vụ ATM, ngân hàng có thể đa dạng hóa dịch vụ, thu hút khách hàng mới làm quen với dịch vụ ATM và các dịch vụ khác do ngân hàng cung cấp, từ đó góp phần tạo ra những đối tác lâu dài, mang tính ổn định cao vì khi hợp đồng dịch vụ được ký kết sẽ gắn kết ngân hàng với khách hàng sử dụng thẻ cũng như ĐVCNT (Nguyễn Quang Huy, 2007).
Đối với khách hàng * Sự thuận tiện và linh hoạt trong thanh toán trong nước và ngoài nước: Dịch vụ ATM cho phép khách hàng mua hàng hóa dịch vụ thông qua mạng lưới rộng rãi các điểm chấp nhận sử dụng dịch vụ, hay rút tiền mặt khi cần thiết và thực hiện các dịch vụ khác như vấn tin tài khoản, chuyển khoản…tại các máy ATM ở khắp nơi mà không bị hạn chế về thời gian giao dịch. * Xét trên góc độ bảo mật, dịch vụ ATM là phương tiện giao dịch thuận lợi và an toàn. Khách hàng là người duy nhất nắm giữ mã số có quyền sử dụng dịch vụ vì vậy chống việc làm giả ngăn chặn người khác sử dụng. Bên cạnh đó dịch vụ ATM 9 luôn được ứng dụng sản xuất dựa trên kỹ thuật công nghệ cao với độ an toàn ngày càng được đảm bảo (Kumbhar, 2011).
* Gọn nhẹ, nhanh chóng và hiệu quả: Khi mua sắm hàng hóa, khách hàng không phải mang theo tiền mặt, không phải mất thời gian kiểm đếm tiền tạo cảm giác thỏa mái khi đi mua sắm với dịch vụ ATM. Đối với nền kinh tế * Góp phần tích cực vào việc thay đổi thói quen giao dịch thanh toán của dân cư, làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế. Hầu hết mọi giao dịch dịch vụ ATM được thực hiện qua hệ thống máy móc điện tử dưới sự kiểm soát của ngân hàng, vì vậy tạo điều kiện cho việc kiểm soát chất lượng giao dịch, thanh toán của dân cư và cả nền kinh tế cũng như tạo tiền đề cho việc tính toán lượng tiền cung ứng và điều hành việc thực thi chính sách tiền tệ của NHNN hiệu quả.