CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại Rủi ro thường hàm chứa trong nó những khả năng gây tổn thất và có thể xảy ra đối với các tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là tài chính. Rủi ro có thể xuất hiện bất ngờ và gây tổn thất lớn đến lợi nhuận cũng như sự an toàn của ngân hàng. Vì vậy, việc dự đoán, phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất là một trong những nội dung mà ngân hàng cần đặc biệt quan tâm. Rủi ro tín dụng đối với một khoản tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã kí kết với ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất và lớn nhất trong thị trường tài ch nh, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng vì các khoản tín dụng thường chiếm quả nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 70- 90% thu nhập cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất, đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy ra. Bản chất của rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất có quy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại - hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một số hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng phân tích thông tin và để xác định độ tin cậy tín dụng của người vay và chỉ quyết định cho vay khi thấy rủi ro tín dụng không quá cao và có thể chấp nhận được.
Tuy nhiên không thể dự đoán được chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân, công thêm vào đó nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng phân t ch t n dụng thỏa đáng. Do vậy, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh , có thể đề phòng hạn chế chứ không thể loại trừ. Theo Luật NHNN Việt Nam (2010) định nghĩa: QLRRTD là quá trình NH xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách, biện pháp có liên quan đến hoạt động tín dụng để ngăn ngừa, hạn chế rủi ro nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho NH.
[5] 8 QLRRTD bao gồm 2 quá trình chính là quá trình thẩm định trước vay và quá trình giám sát việc tuân thủ cam kết tín dụng. QLRRTD được áp dụng từ khi xét duyệt hồ sơ vay vốn đến quá trình thẩm định khách hàng đến lúc ký kết hợp đồng thành công và giải ngân, sau đó NH vẫn phải kiểm soát được việc thu nợ và xử lý nợ xấu.2 Vai trò của quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại Theo Deltuvaite, V. (2012) cho rằng: RRTD là một trong những vấn đề mà tất cả các NHTM đều phải đương đầu. QLRRTD là vấn đề khiến cho các NHTM phải quan tâm nhiều nhất bởi vì mọi hoạt động tín dụng đều có ít hoặc nhiều rủi ro, những rủi ro này có thể nằm ngoài dự tính của NHTM va đặc biệt RRTD rất đa dạng và phức tạp.
Vì khó kiểm soát và không thể dự tính được nên RRTD thường gây tổn thất lớn cho các NHTM. [6] Nếu hiểu theo cách đơn giản thì QTRRTD là việc các NHTM vận dụng những nguyên lý, mô hình và kinh nghiệm quản trị để phòng ngừa và giảm thiểu tối đa những tổn thất mà NHTM phải chịu khi RRTD xảy ra. QTRRTD là một trong những chiến lược hàng đầu mà mỗi NHTM phải vạch ra cho mỗi năm kinh tế, đối với mỗi loại RRTD sẽ có những cách giải quyết và phòng ngừa khác nhau. QTRR danh mục cho vay là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động của nhà quản trị như nhận dạng, đo lường, giám sát và tài trợ rủi ro nhằm tối đa hóa lợi nhuận ở mức rủi ro có thể chấp nhận được (Nguyễn Minh Kiều, 2009).
[7] Lợi ích của việc NHTM thực hiện tốt hoạt động QTRRTD là: - Không gây thất thoát vốn, đảm bảo thu nhập và giảm thiểu chi phí. - Tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư. - NHTM sẽ tăng được uy tín và hình ảnh trên thị trường tài chính, giúp tăng sức cạnh tranh với các NHTM khác để từ đó dễ dàng mở rộng thị trường Khi hoạt động QTRRTD của NHTM được tổ chức thực hiện tốt thì sẽ đem lại lợi ích cho cả nền kinh tế. Đặc biệt, trong thời đại nền kinh tế hiện nay, các định chế tài chính có mối quan hệ khăng khít với nhau, chỉ cần một định chế đổ vỡ, sẽ gây hiệu ứng dây 9 chuyền đổ vỡ trên toàn hệ thống.
Vì vậy, công tác QTRRTD của NHTM chính là việc đem lại sự an toàn, ổn định cho thị trường. Đặc biệt đối với các NHTM Việt Nam, hoạt động quản lý càng có ý nghĩa quan trọng, do tỷ trọng dư nợ chiếm phần lớn trong tài sản có, thu nhập từ tín dụng là chủ yếu, nhưng lại có rủi ro lớn nhất trong các loại rủi ro của NHTM. Hơn nữa, hoạt động QTRRTD của các NHTM Việt Nam lại chưa được xem xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học, chưa áp dụng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế. Trong quá trình hội nhập quốc tế, nhà quản lý phải xem xét lại vấn đề này một cách thấu đáo, tiến dần tới các chuẩn mực theo thông lệ quốc tế.
Mục đích của QTRRTD nhằm: - Tạo lập một danh mục tín dụng hợp lý, có khả năng sinh lời cao, ít rủi ro. - Nâng cao tinh thần, ý thức và trách nhiệm của các nhân viên tín dụng trong việc tìm kiếm và thu hút các khách hàng tiềm năng nhưng uy tín. - Tạo ra được những quy chuẩn chung để các phòng ban cũng như khách hàng có thể nắm được. - Đảm bảo được sự minh bạch và chất lượng của các danh mục tín dụng, xử lý kịp thời những rủi ro phát sinh bằng cách trích đủ dự phòng - Xử lý kịp thời những rủi ro và phát sinh, tránh tổn thất về tài chính cho mỗi NHTM.3 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại Theo Lê Thị Diệu, (2010) đã đưa ra các nội dung quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại bao gồm: [8] 1.1 Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng và chính sách quản lý rủi ro tín dụng - Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro: NHTM cần xác định được tầm nhìn, mục tiêu, sứ mệnh của NHTM để từ đó đưa ra khẩu vị rủi ro, mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, để từ đó hoạch định chiến lược QTRR phù hợp.
10 - Xây dựng chính sách QTRR tín dụng: để thực thi Chiến lược QTRR, trong từng thời kỳ, Ban điều hành đưa ra các chính sách QTRR tín dụng là cơ sở để hình thành nên quy trình tín dụng với những hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết, các bước cụ thể trong quá trình cấp tín dụng, quy định giới hạn cho vay đối với khách hàng, phân loại nợ, trích lập dự phòng. Mức ủy quyền phán quyết là hạn mức tín dụng tối đa mà Agribank giao cho chi nhánh được toàn quyền quyết định. Giới hạn rủi ro là mức rủi ro tối đa mà NHTM có thể chịu đựng được để đảm bảo đạt được mức lợi nhận tương ứng. Quản trị danh mục cho vay: NHTM phải thường xuyên phân tích và theo dõi danh mục tín dụng đặc biệt là các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề để có những biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro xảy ra.
Trên cơ sở danh mục cho vay, NHTM tiến hành phân loại nợ để phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ trong hạn, nợ cần đặc biệt chú ý, nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. + Rà soát chính sách QTRR tín dụng theo từng thời kỳ: chính sách QTRR tín dụng với mục tiêu mở rộng tín dụng đồng thời hạn chế RRTD nhằm nâng cao thu nhập cho NHTM. Chính sách quản trị RRTD nhằm hạn chế rủi ro như: chính sách tài sản đảm bảo, bảo lãnh, đồng tài trợ…Chính sách quản trị RRTD là cơ sở để hình thành nên quy trình tín dụng. Điều này tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.2 Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng Mô hình QTRRTD phản ánh một cách hệ thống các vấn đề sau: Các cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; Các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới phát sinh; Các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi ro xảy ra; 11 Như vậy, mô hình quản trị RRTD được hiểu như sau: Mô hình quản trị RRTD là cách thức tổ chức quản trị, đo lường, kiểm soát RRTD nhằm khống chế RRTD trong một giới hạn cho phép theo nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận của tổ chức tín dụng.
Hiện nay đang có hai mô hình phổ biến được áp dụng. Đó là mô hình quản trị RRTD tập trung và mô hình quản trị RRTD phân tán. Ngoài ra còn có mô hình kết hợp giữa tập trung và phân tán, tức là tùy từng lĩnh vực, ngành nghề, loại hình sản phẩm dịch vụ hay khách hàng có thể áp dụng mô hình quản trị tập trung tại Hội sở hay phân cấp xuống từng chi nhánh. Mô hình quản lý rủi ro tập trung Theo Lê Thị Diệu, (2010) định nghĩa: Mô hình quản lý rủi ro tập trung là cách thức tổ chức quản lý rủi ro dựa trên nguyên tắc tập trung tại một bộ phận, quyền quyết định và quản lý rủi ro khoản vay tập trung ở Hội sở.
[8] Đặc điểm của mô hình quản lý rủi ro tập trung: Một là, thông tin về hoạt động NHTM tập trung cao tại Hội sở trên cơ sở đó Hội sở có thể xây dựng, kiểm tra các mục tiêu và tầm nhìn chiến lược, xác định mô hình quản trị RRTD của NHTM.