Chương 1: Tổng Quan Chương 2: Giới Thiệu Thiết Bị FACTS Chương 3: Phân Tích Các Chỉ Số Ổn Định Điện Áp Chương 4: Kết quả mô phỏng Chương 5: Kết Luận 7 Luan van CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN THIẾT BỊ FACTS 2.1 Giới thiệu Trong hệ thống điện, công suất truyền tải trên các đường dây phụ thuộc vào tổng trở đường dây, điện áp và góc lệch pha. Vì vậy, khả năng truyền tải công suất của đường đây được cải thiện đáng kể bằng việc tăng công suất phản kháng ở phụ tải, lắp cuộn kháng bù ngang (mắc song song), tụ điện bù dọc (mắc nối tiếp) vào đường dây để điều khiển điện áp dọc theo chiều dài đường dây. Để nâng cao chất lượng điện áp và ổn định điện áp, hiện tại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc ứng dụng thiết bị bù công suất phản kháng. Tuy nhiên, các thiết bị đó vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về phản ứng nhanh nhạy khi có sự thay đổi đột ngột của hệ thống về công suất phản kháng.
Các thiết bị truyền tải điện xoay chiều linh hoạt (Flexible AC Tranmission System – FACTS) đã đáp ứng yêu cầu về phản ứng nhanh nhạy cũng như dung lượng bù tối ưu cho hệ thống điện trong mọi chế độ của hệ thống. FACTS dùng để tăng khả năng điều khiển và tăng công suất truyền tải của đường dây. FACTS được IEEE định nghĩa là: “Hệ thống sử dụng các thiết bị điện tử công suất và các thiết bị tĩnh khác để điều khiển một hay nhiều thông số của hệ thống đường dây truyền tải, qua đó nâng cao khả năng điều khiển và khả năng truyền tải công suất.” Trong thực tế, tính chất tiêu thụ điện ở từng thời điểm luôn khác nhau, cho nên tình trạng truyền tải công suất trên đường dây cũng khác nhau, có thể tại một thời điểm trên hệ thống có những đường dây quá tải và cũng có những đường dây non tải. Với tình hình công nghiệp hóa như hiện nay, đòi hỏi nhu cầu truyền tải để đáp ứng cho phụ tải ngày càng cao và hiện tại đường dây cao áp luôn đặt trong tình trạng báo động về giới hạn vật lý của chúng như quá tải đường dây, các hiện tượng nhiễu hệ thống như là hiện tượng dao động tần số, điện áp… 8 Luan van Nhằm tăng khả năng truyền tải trên hệ thống điện và khắc phục những nhược điểm nêu trên sử dụng thiết bị FACTS là một trong những giải pháp hiệu quả.
Các thiết bị này được sử dụng để điều khiển điện áp, trở kháng và góc pha của đường dây cao áp. Các thiết bị FACTS đã đem lại nhiều lợi ích cho các nhà cung cấp như: + Tận dụng lưới điện hiện hữu để lắp đặt thiết bị FACTS + Nâng cao khả năng giữ ổn định điện áp, giảm dao động công suất làm cho việc vận hành HTĐ linh hoạt và hiệu quả hơn + Điều khiển trào lưu công suất phản kháng theo yêu cầu + Tăng khả năng tải của đường dây gần tới giới hạn nhiệt + Tăng độ tin cậy, giảm tổn thất hệ thống Từ những lợi ích trên của thiết bị FACTS, Việc sử dụng thiết bị FACTS sẽ góp phần giải quyết việc vận hành hệ thống điện một cách khoa học, nâng cao hiệu quả đường dây tải điện hiện có, đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra. Đặc biệt ở những nơi yêu cầu về cung cấp điện an toàn và tin cậy. Tuy nhiên giá thành các thiết bị FACTS là rất cao, do đó, khi nghiên cứu áp dụng thiết bị FACTS cần phải phân tích các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật để lựa chọn giải pháp phù hợp.2 Phân loại thiết bị FACTS Các thiết bị FACTS có thể phân ra làm bốn loại: Thiết bị điều khiển nối tiếp (Series Controllers): Loại thiết bị này cho phép thay đổi tổng trở đường dây bằng tụ điện, điện kháng, hoặc biến đổi nguồn có tần số bằng tần số lưới nhờ thiết bị bán dẫn công suất.
Về nguyên lý, tất cả các thiết bị điều khiển nối tiếp chỉ cung cấp hoặc tiêu thụ công suất phản kháng biến đổi. 9 Luan van Thiết bị điều khiển song song (Shunt Controllers): Loại thiết bị này cho phép thay đổi tổng trở, thay đổi nguồn hoặc kết hợp cả hai. Tất cả các thiết bị điều khiển song song bù dòng điện vào hệ thống tại điểm nút. Thiết bị điều khiển kết hợp nối tiếp với nối tiếp (Combined series – series Controllers): Đây là sự kết hợp các thiết bị điều khiển nối tiếp riêng rẽ, có cùng cách thức điều khiển được sử dụng trong hệ thống nhiều dây dẫn hoặc có thể là thiết bị điều khiển hợp nhất.
Trong những thiết bị điều khiển nối tiếp công suất phản kháng được bù độc lập cho mỗi đường dây, tuy nhiên công suất tác dụng giữa các đường dây được trao đổi qua nguồn liên kết. Khả năng chuyển công suất tác dụng của thiết bị điều khiển nối tiếp – nối tiếp hợp nhất tạo ra sự cân bằng cả dòng công suất tác dụng và công suất phản kháng trong các dây dẫn, tận dụng tối đa hệ thống truyền tải. Thiết bị điều khiển kết hợp nối tiếp với song song (Combined series – shunt Controllers): Đây là sự kết hợp các thiết bị điều khiển song song và nối tiếp riêng rẽ được điều khiển kết hợp hoặc điều khiển hợp nhất dòng năng lượng với các phần tử nối tiếp và song song. Về nguyên lý, những thiết bị điều khiển song song và nối tiếp kết hợp bù dòng điện và hệ thống với những phần tử điều khiển song song và bù điện áp trên đường dây với những phần tử bù nối tiếp.3 Mô hình thiết bị FACTS 2.
Mô hình thiết bị SVC 2. Cấu tạo và nguyên lý làm việc Mặc dù các thiết bị FACTS được giới thiệu vào năm 1986, các thiết bị SVC đã được sử dụng trước đó vào những năm 1960. Các thiết bị SVC đầu tiên được phát triển để bù cho các tải công nghiệp gây dao động lớn như các lò luyện hồ quang điện. Đến khoảng nửa sau những năm 1970, các thiết bị SVC được áp dụng vào hệ thống truyền tải nhằm mục đích điều khiển điện áp và điều khiển ổn định.
Một trong những SVC điều khiển bằng Thyristor (định mức 40MVAr) đầu tiên được lắp đặt tại trạm biến áp Shannon của hệ thống điện và chiếu sáng Minnesota 10 Luan van vào năm 1978. Từ đó các SVC đã được áp dụng rộng rãi trong hệ thống điện để bù song song. Thành phần chính và cấu trúc của một SVC tiêu biểu được cho trong Hình 2.1: Nguyên lý cấu tạo SVC Hầu như SVC luôn luôn được nối với lưới truyền tải thông qua một máy biến áp ghép nối (Coupling Transformer). Tổng quát, tại nút phía điện áp thấp của máy biến áp thường có 3 thành phần như sau: cuộn kháng điều khiển bởi Thyristor (Thyristor Controlled Reactor-TCR), dàn tụ điều khiển đóng mở bởi Thyristor (Thyristor Switched Capacitors-TSC) và các bộ lọc sóng hài (Harmonic Filters).
Cuộn kháng điều khiển bởi Thyristor (TCR): mô hình của TCR một pha chứa một cặp Thyristor mắc đối song, nối tiếp với cuộn kháng tuyến tính. Việc đóng cắt có điều khiển của Thyristor kết hợp với đáp ứng tuyến tính của cuộn kháng cung cấp điện kháng tác động ở tần số cơ bản của TCR. Điện kháng này là hàm của góc trễ pha, có thể thay đổi liên tục từ giá trị điện kháng cụ thể (Thyristor dẫn hoàn toàn) đến giá trị không xác định (Thyristor khóa hoàn toàn). Điện kháng tác động của TCR được cho theo phương trình như sau: Trong đó: - Xtcr là điện kháng tác động của TCR ở tần số cơ bản.
11 Luan van - XL là điện kháng của cuộn kháng ở tần số cơ bản. Mô hình TCR ba pha bao gồm ba mạch như sau: - Dàn tụ điều khiển đóng mở bởi Thyristor (TSC): Các Thyristor có chức năng đóng mở các tụ theo yêu cầu để kết hợp với TCR nhằm cung cấp một dải ngõ ra liên tục bao gồm từ ngõ ra tính cảm cho đến ngõ ra tính dung. - Các bộ lọc sóng hài cố định: Các bộ lọc này có tác dụng lọc sóng hài sinh ra từ việc vận hành TCR. Hơn nữa, các bộ lọc cũng giúp bù dung ở tần số cơ bản.
- Bằng cách thay đổi góc trễ α, điện kháng tác động của TCR biến đổi, từ đó thay đổi điện kháng tác động của SVC. Bằng cách làm như vậy, SVC có thể cung cấp hoặc tiêu thụ công suất phản kháng từ hệ thống truyền tải. - Từ quan điểm vận hành, SVC có thể được xét đến như là một điện kháng thay đổi được nối song song, có thể phát ra hoặc thu lại công suất phản kháng nhằm điều chỉnh biên độ điện áp từ điểm đấu nối vào lưới điện truyền tải. Mô hình toán học Đối với thiết bị SVC, phương trình ràng buộc công suất tác dụng và công suất phản kháng liên quan đến nút điện áp cao, trên thực tế là các nút tải, được bao gồm trong (2.
Phần này tập trung vào hàm điều khiển điện áp và ràng buộc công suất tác dụng tại nút điện áp thấp của SVC. Biên độ điện áp của nút điện áp cao của SVC được điều khiển phù hợp với đặc tuyến V-I như sau: |V (ns)| − asvc (s) ∗ Isvc (s) = Vsvcref (s) (2.1) Trong đó: |V (ns)| và Vsvcref (s) là biên độ điện áp tại nút điện áp cao của SVC và giá trị tham chiếu của SVC. - asvc (s) là độ dốc điện kháng của SVC - Isvc (s) là vector dòng điện của SVC 12 Luan van Hàm điều khiển đại diện bởi (2.1) chỉ có giá trị khi các giới hạn vận hành của SVC không vượt quá mức. Đối với SVC, giới hạn vận hành được xác định bởi điện dẫn như sau: BLsvc (s) ≤ Bsvc (s) ≤ BCsvc (s) (2.2) Trong đó: Bsvc (s), BCsvc (s) và BLsvc (s) là giới hạn điện dẫn, điện kháng, điện cảm tương đương của điện dẫn SVC tương ứng.
Khi một trong các bất đẳng thức ràng buộc trong (2.2) của một SVC bị vi phạm, điều khiển điện áp theo quy định tại (2.1) được tách ra và mô hình SVC sau đó được biểu diễn như là một điện dẫn nối tiếp không đổi được đưa vào giá trị giới hạn. Đối với SVC, khi tổn thất công suất tác dụng được giảm xuống, theo sau ràng buộc công suất tác dụng tại nút điện áp thấp được áp dụng: P (nsl) = 0 (2.3) Trong đó: P (nsl) là công suất tác dụng nút tại nút điện áp thấp của SVC. Mô hình thiết bị STATCOM 2. Cấu tạo và nguyên lý làm việc Thiết bị STATCOM đầu tiên trên thế giới sử dụng bộ nghịch lưu Thyristor có định mức 20MVAr, được phát triển và đưa vào vận hành từ tháng 01 năm 1980 bởi Kansai Electric Power Co.