Chương 1 TONG QUAN VUNG NGHIÊN CUU 1. Tông quan về điều kiện tự nhiên trên hệ thống thủy lợi Xuân Thủy 1.11, Vi tri địa lý Hệ thống thủy lợi Xuân Thủy bao gồm hai huyện Xuân Trường và Giao “Thủy thuộc tinh Nam Định, nằm ở phía đông tỉnh Nam Định, được giới hạn bởi sông Hồng ở phía bắc, sông Ninh Cơ và huyện Trực Ninh - tỉnh Nam Định ở phía tây, huyện Hai Hậu - tinh nam Dinh ở phía tây nam, biển Déng ở phía đông và đông, ‘nam, Sông Hồng cũng là biên giới chung giữa tỉnh Nam Định nói chung và hệ thống thủy loi Xuân Thủy nói riêng với tính Thái Bình. Hệ thông thủy lợi Xuân Thủy kéo dai từ 20°10°27" đến 20'22'32” vĩ độ bắc, tử 106°17°44" đến 106°36°22" kinh độ đông. Đặc điểm di hình Hg thống thủy lợi Xuân Thủy là vùng được hình thành nhờ quá trình bồi tụ phù sử của hệ thống sông Hồng ~ sông Ninh Cơ cùng với quá tình khai hoang lin biển nên có dia bình tương đối bing phẳng và được chia thành hai ving độc lập là ving trong dé và vùng bãi sông, bãi biển ngoài đề: 1.
Vùng bi ng, bãi biển ngoài dé: Đây là các vùng đất dang được hình thành do quá bôi tụ phù sa của sông Hồng mà thành gồm: xông So cổ diện ích 132 ha thuộc các xã Giao Tiến, Giao Tân, Giao Thịnh, Xuân Hòa, Xuân Vinh có cao trình tự nhiên trung bình +0,8 m đến +1,0 m. Vùng bãi biển Cổn Lu ~ Cồn Ngạn có cao độ trung bình +0.7 m, Vùng dit này còn được biết đến với tên Vườn Quốc gia Xuân Thủy, vùng đất ngập nước chính thức gia nhập công woe RAMSAR (Công use bảo vé những ving dit ngập nước có tim quan trong quốc t đặc biệt như là ni dĩ trú cia những loài chim nước). Vườn Quốc gia Xuân Thủy còn là vùng lõi có tầm quan trọng đặc biệt của. khu dự trữ sinh quyén Đồng bằng ven biển châu thổ sông Hồng đã được UNESCO công nhận nim 2004.
Vũng trong đề: Dé là vùng nghiên cứu của luận văn. Nhìn chung địa hình ving này có xu hướng đốc dẫn ừ bắc xuống nam, từ ty sang đông và được chia thành thành hai khu vực sau: a) Khu vực phía bắc sông Ngô Đồng (Sông Sồ): thuộc địa bàn huyện Xuân “Trường, có cao tình bình quân từ 10,6 m đến 10,7 m, Trong ving khu vực lòng chảo thấp có ca tình từ +03 m đến 20,4 m nằm ở le xã Xuân Thúy, Xuân Ngọc, Xuân Bắc, Xuân Trung, Xuân Đài, Xuân Tân. Những vùng cao nằm ven sông Hồng và sông Ninh Cơ có cao tình từ 40.9 m đến +1,1 m gồm các xã Xuân Châu, Xuân Hồng, Xuân Thành, Xuân Phong, Xuân Ninh b) Khu vực phía nam sông Sd: thuộc địa bàn huyện Giao Thủy, hướng đốc. dia hình thoải dẫn từ tây bắc xuống đông nam, cao trinh phổ biển từ 40.
Ving cao ven thượng lưu sông Ngô Bang, sông Hồng, kênh Cin Nhất có cao tinh từ 40.9 m đến +1,0 m gồm các xã Hoành Sơn, Giao Tiền, một phần các xã Giao Hà, Giao Nhân, Giao Châu. Đặc biệt có một số khu vực obn cát nằm ở phía nam huyện Giao Thủy có cao trình từ +2,0 m đến +2,5 m gồm các xã Giao Lâm, Giao Phong, Giao Tién, Những vùng đất thắp nằm sắt biển có cao trinh từ 302 m đến +0,4 m gồm một phần các xã Giao Tiến, Giao Châu, Giao Long, Giao Hai, Giao An và Giao Thiện 1. Đặc điểm cấu tạo địa chất. Dựa theo tài liệu điều tra, nghiên cứu của các nhà địa chất trong nước và tải liệu khảo sắt địa chất các công tình xây dựng đã tiễn khai trên hệ thống thủy lợi “Xuân Thủy trong những năm qua có thể khái quất cầu rie địa chất của ving nghiên cứu có dang sau + Trim tích Pledoxen: nim dưới đáy địa ting là cát thạch anh hạt nhỏ đến hạt trung thuộc bồi tích cỗ alQ, có bề đầy từ 20 đến 30 m hoặc lớn hơn, nằm khá sâu dui mặt đắt từ 20 đến trên 30 m.
+ Trim tích tholoxen: nằm trên ting tram tích Pleixtoxen, dạng phỏ biến là bùn sét kiểu đầm lẫy ven biển (bmQw). Trên ting bản sết là trim tích sé biển (mQ), rên nữa là ng & sé có chứa vỏ sò, chất hữu cơ thực vật. Trên cùng là ting bồi tích sống (al) (Qua trình hình thành và phát iển địa chất vùng nhiên cứu rất phức tạp được 6 tính đa dạng của các dạng địa hình và các kiểu địa mạo. Tuy nhỉ thể khái quát lại thành 2 kiểu địa mạo chính sau: Kiểu địa mạo này có địa hình rất bằng phẳng, chiếm phin lớn diện ích vùng nghiên cứu.
Đây là kiểu đồng bing đã qua giai đoạn phát triển tam giác châu, đang trong giai đoạn phát triển cũa đồng bằng bồi tich phủ sa sông. Những chỗ thấp là tan tích của các lòng sông cũ còn những chỗ cao là tàn ích của các con tach gần bờ. Quá trình bồi lắp tuy chưa hoàn thiện nhưng hiện tại đã bị ngừngtrệ do hệ thông. để ngăn lĩ được xây dựng tên hẳu hết các sông lớn.
Do ảnh hưởng của hệ thống để mà vùng nghiên cứu đã hình thành các 6 trũng lớn tương đối độc lập với nhau. Đằng bằng bồi tích tam giác châu hiện đ; Kiểu địa mạo này nằm ở khu vực cửa biển sông Hồng và sông Ninh Cơ, dang trong giai đoạn bồi tự rit mạnh làm cho tam giác châu sông Hồng tin nhanh ra biển với tốc độ vài chục m mỗi năm, bề mặt rit bằng phẳng và độ cao tuyệt đối rất thấp, biển đổi từ 0 đến 1,0 m Nhìn chung nén địa chit ving nghiên cứu rit yêu, kh khảo sat thiết kế và thi công các công trình thủy lợi edn có biện pháp thích hợp đẻ xử lý chống lún, chẳng. cất dùn, cất chảy. Đặc điểm thổ nhưỡng Đất đại trong hệ thông thủy lợi Xuân Thủy được hình thành chủ yếu do quả trình bồi tụ phủ sa của hệ thống sông Hồng và sông Ninh Cơ.
Cùng với quá trình cải tạo đắt phục vụ sản xuất nông nghiệp, điều kiện canh tác cùng những tác động của các yếu tổ tự nhiên và xã hội trên hệ thống đã hình thành nhiễu loại đắt khác nhau Theo các chuyên gia về thổ nhường, đắt canh tác trên hệ thống thủy lợi Xuân Thủy bao gồm một số loại chính sau đây: 1. DAt phù sa được bồi hàng năm (pb, p's) Loại đắt này phân bổ ở các khu vue nằm ngoài dé sông Héng và sông Ninh Cơ. Đây là loại đắt có dung tích hip thụ và mức độ bão hòa bazơ cao, cổ phản ứng trung tinh, í chua, thành phần cơ giới thịt nhẹ, him lượng min rit thấp và có xu hướng giảm theo chiều siu của phẫu diện. Dam và lân tong s tắt nghèo nhưng lại tương đối giầu kali tổng số.
Các chất dé tiêu như lân ở mức thấp, đắt còn kali ở mite khả. Trong thành phần cation trao đổi thì him lượng Ca”” ở mức cao cồn magié lại ở mức thấp. Mặc dù có diện tích không lớn lại phân bổ ở ngoài dé, về mùa lũ việc canh tức trên lại đất này cổ nhiễu hạn chế nhưng lạ là loại dt hich hợp với nhiễ loi mơ, how màu và cây công nghiệp ngắn ngày như mía, ngõ, đậu đỗ 2. Dit phù sa không được bai (p, p°) Là loại đt rt phố biến phân bố ở các khu vue cao nằm trong để sông.
Do có địa hình cao và nằm trong để nên loại đắt này hầu như không được bồi bổ sung một lượng phủ 4 sa méi, Dit có mau nâu tươi, hình, ph diện khá dng a it chua ở ting mặt, càng xuống dưới thi pHxc, càng tăng. Các chất tong số như đạm ở mức trung bình, lân ở. mức khá và kali ở mức cao. Các chất dễ tiêu chỉ cổ kali ở mức khá côn lin thi ở mức thấp.
Tương tự như đất phi sa được bồ, trong tổng lượng cation trao đổi thì hàm lượng Ca” vượt ti so với Mạ”, Dung tích hp thụ cao. Độ no bazo khá, ạt xp xi 703. Mặc đù hàng năm không được bổ sung một lượng phù sa mới như đất phủ sa được béi nhưng đây lại là loại đất tốt thích hợp cho cả việc trồng lúa, hoa màu và hâm canh tăng vu. Dit phù sa chua (Po) Đây là loi dit phổ biến nhất trong nhóm dit phủ sa, có đặc tính chung là chua, hàm lượng hữu cơ, đạm, ka ti và dung tích hip thu ở mức trung bình, lân ở mức trung bình và nghèo, độ bão hồn baz nhỏ dưới 50%.
Do thiễu và không cân đổi him lượng NPK nên loại đất này cần tăng cường bin phân để cân dối dinh dưỡng đặc biệt là phải năng cao hàm lượng hữu cơ và hạ dẫn độ chua của đất 4. Dit phù sa gley (pg) Loại đắt này cũng khá ph biến trên hệ thống. Do phân bổ ở khu vực có địa hình thấp tring, bị ngập nước trong một thời gian dii, mục nước ngim thường xuyên ở mức cao đã to ra tinh trang đất bị m khí thường xuyên, quá tình giãy phát tiển mạnh làm cho đất có miu loang 16. Khảo sát một số phẫu diện đấtt hệ thống cho thay ty lệ cap hat sét ở các ting đất thường khá cao vẻ tăng theo chiều sâu của phẫu diện.
Dit có phản ứng chua, hàm lượng min, đạm và kali tổng số cao trong khi lân tổng số tp. Các chất để tiêu như lã rất nghèo, kali ở mức trung bình. Trong thành phần các cation trao đổi, hàm lượng can xỉ ở mức trung bình, ma gi thấp, Dung tích hip thụ trung bình còn độ no bazơ khá 5. Dit đỏ vàng biến đỗi do trồng lúa (FI) Phin b6 rãi rác khắp các khu vục rồng lúa nước, Là loi đắt có nguôn gốc tại chỗ, qua quả tình canh tác lúa nước đất bị biển đổi một số tỉnh chất lý hoá học mà tạo nên loại dit đò vàng.
Kết quả phân tích mẫu đất do Hội Khoa hoe đắt Việt Nam thực hiện cho thấy đắt có thành phần co giới trung bình, phản ứng ít chua, him lượng mùn khá (có thé do được bổ sung trong quá trình canh tác bằng phân hữu cơ). “Các chit tổng số như đạm và kali ở mức khá, lân ở mức nghèo. Hm lượng can xi magiê thấp. Dung tich hp thụ cation và độ no bazơ thấp.
Đây là loại đắt được nhân dân khai thác trồng la nước từ lầu đồi. Độ phi của chúng phụ thuộc vào loại đắt ti chỗ và trình độ thâm canh của nhân dan địa phương. Bởi vậy độ phi của loại đất này thay đổi theo vùng.