Chương 1 đã nêu lên một cách khái quát về NLCT của NHTM, những tiêu chí để đánh giá NLCT trong hoạt động cho vay của NHTM dựa trên những đặc điểm của NHTM. Đồng thời cũng đi sâu tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới NLCT trong hoạt động cho vay của ngân hàng, trong đó nhấn mạnh tác động của chính sách tiền tệ trong năm 2008-2009. Đây là một công cụ quan trọng trong việc quản lý cung tiền cũng như kiểm soát lạm phát của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước sẽ sử dụng công cụ này nhằm đảm bảo hệ thống tổ chức tín dụng hoạt động một cách đồng bộ trong mục tiêu chung là phát triển kinh tế.
SV: Nguyễn Thị Huệ Lớp: Kinh tế học 48 Chuyên đề tốt nghiệp Những cơ sở này là tiền đề phân tích NLCT trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong chương 2, kế đó đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao NLCT trong hoạt động cho vay của BIDV trong chương 3. SV: Nguyễn Thị Huệ Lớp: Kinh tế học 48 Chuyên đề tốt nghiệp CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN Tổng quan về ngân hàng đầu tư và phát triển Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam -Bank of Investment and Development of Viet Nam, là một trong bốn ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất Việt Nam hiện nay. Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam được thành lập theo Quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ, được tổ chức hoạt động theo Quyết định số 54/ QĐ- HĐQT ngày 12/08/2002 của Hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam đã có 53 năm hoạt động và phát triển, thực hiện chức năng huy động vốn ngắn, trung và dài hạn trong và ngoài nước để đầu tư và phát triển, kinh doanh đa năng tổng hợp về tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng; làm ngân hàng đại lý, ngân hàng phục vụ cho đầu tư phát triển từ các nguồn vốn của Chính phủ, các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước.
Trải qua những giai đoạn phát triển của đất nước với những nhiệm vụ khác nhau, tên gọi của ngân hàng cũng khác nhau qua các thời kỳ từ Ngân hàng kiến thiết Việt Nam (1957-1980), Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (1981- 1989) đến Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) hiện nay. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, BIDV luôn hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho. Cùng với hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) là lực lượng chủ lực thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Trong hoạt động, BIDV luôn tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.
Đến năm 2009, tổng tài sản đạt 292.000 tỷ đồng, tăng 18,5%; huy động vốn đạt 216.400 tỷ đồng, tăng 7,9%; dư nợ tín dụng (bao gồm cả ADB và biến động tỷ giá) 190.880 tỷ đồng, tăng 23,8%; và lần đầu tiên hệ số an toàn vốn CAR: 10%; ROA: 1,28%; ROE: 15,36% của BIDV đạt được tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng được nền tảng công nghệ thông tin ngân hàng ban đầu đáp ứng hoạt động của ngân hàng và làm cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới công nghệ ngân hàng để nâng cao sức cạnh tranh. Và đã ứng dụng nền tảng công nghệ thông tin hiện đại một cách hiệu quả trong việc phát triển sản phẩm dịch vụ, tăng cường SV: Nguyễn Thị Huệ Lớp: Kinh tế học 48 Chuyên đề tốt nghiệp khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng, tạo bước phát triển đột phá về số lượng và chất lượng trong hoạt động dịch vụ của toàn hệ thống. Nhìn chung, BIDV đã hoàn thành toàn diện đề án cơ cấu ngân hàng, thực hiện việc kiểm soát tăng trưởng an toàn và hiệu quả, từng bước nâng cao quy mô, tiềm lực tài chính, năng lực thể chế và sức cạnh tranh của NH.
Những kết quả kể trên đã góp phần nâng cao uy tín, năng lực và kinh nghiệm của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, là nền tảng và tiền đề quan trọng để BIDV tiếp tục phát triển và đạt được các mục tiêu chiến lược đề ra. Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động cho vay của ngân hàng Đầu tư và Phát triển 2.1 Quy mô cho vay Năm 2008 -2009, thị trường bắt đầu xuất hiện khó khăn cùng chủ trương khống chế tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng Nhà nước không quá 30% buộc cac ngân hang thương mai phai giam tôc đô cho vay nêu không muôn tăng trương tin dung vươt qua giơi han cho phep. Thê nhưng, thưc tê cho thây viêc giam tiên đô cho vay ơ thơi điêm nay la vô cung kho khăn. Sau bôn thang thưc hiên kich câu, 331.906 ti đông vôn vay hô trơ lai suât đa đươc giai ngân, điều này là đon bây đây tăng trương tin dung lên cao, tăng trưởng nóng, gây ra tình trạng căng thẳng về thanh khoản đối với một số NHTM do NHNN chủ trương không “bơm” thêm tiền mặt cho các NHTM, buộc các NHTM nói chung và BIDV nói riêng phải tìm cách kiểm soát tốc độ tăng trưởng dư nợ.
Kết quả tăng trưởng dư nợ bình quân giai đoạn 2008-2009 là 22,8% , phù hợp với tăng trưởng kinh tế và chủ trương của NHNN, điều này cũng thể hiện rõ quan điểm hạn chế tăng trưởng để kiểm soát an toàn.1: Quy mô dư nợ của BIDV giai đoạn 2006-2009 Đơn vị tính: tỷ đồng, % Chỉ tiêu Năm 2005 2006 2007 2008 2009 Dư nợ(tỷ đồng) 85.880 Dư nợ/ tổng tài sản 67% 59% 65,5% 64% 65,4% Tốc độ tăng trưởng dự nợ 17,9% 17,72% 34,4% 22% 23,8% Tốc độ tăng trưởng dư nợ 23,1% bình quân SV: Nguyễn Thị Huệ Lớp: Kinh tế học 48 Chuyên đề tốt nghiệp Thu lãi cho vay(tỷ đồng) 6.926 8987 11908 22124 34805 % thu lãi cho vay/ tổng thu 78% 76% 71% 74% 75,6% nhập (Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV năm 2005-2008, Báo cáo toàn ngành BIDV năm 2009) Trong 5 năm trở lại đây tổng dư nợ cho vay của BIDV liên tục tăng, cụ thể là 85.880 tỷ vào năm 2009 (tăng trưởng 23,8%), và hoạt động tín dụng trong tháng 2/2010 tiếp tục tăng nâng tổng dư nợ tín dụng cuối kỳ đạt 197.813 tỷ tăng 3,6% so với năm 2009. Giai đoạn tăng nhiều nhất là 34,4% vào năm 2007. Dư nợ tăng trưởng bình quân là 23,1% trong cả giai đoạn 2005-2009 và thường xuyên chiếm trên 70% tổng tài sản của BIDV. So với các NH khác, dư nợ của BIDV đứng thứ 2 trong hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay sau Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank).
Thu lãi cho vay có xu hướng giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng thu nhập của BIDV, đến cuối năm 2009 là 75,6%, so với NHTMNN, chỉ tiêu này thấp hơn của Vietinbank nhưng cao hơn các NH còn lại như VCB và Agribank, đặc biệt cao hơn rất nhiều so với các NHTMCP như ACB khoảng 50% và Sacombank là 60%. Tăng trưởng về dư nợ cho vay đóng góp phần lớn cho tăng trưởng tổng tài sản trong thời gian qua do tín dụng là hoạt động cốt lõi của BIDV. Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng trung bình trong giai đoạn 2005-2009 là 23,1% thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng của ngành( 26,05%), nhưng lại cao hơn so với các NHTM trong khối. SV: Nguyễn Thị Huệ Lớp: Kinh tế học 48 Chuyên đề tốt nghiệp 50.1 : Tăng trưởng dư nợ tín dụng giai đoạn 2005-2009 2.2 Cơ cấu cho vay 2.1 Cơ cấu cho vay theo thời gian Bảng 2.2: Cơ cấu cho vay theo thời gian của BIDV giai đoạn 2006-2009 Đơn vị tính: tỷ đồng, % Năm 2005 Năm2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Chỉ tiêu Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Dư nợ 85.880 100 Dư nợ ngắn hạn 49.887 44,5 ( Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV năm 2005-2008 và Báo cáo toàn ngành BIDV năm 2009) Tỷ trọng cho vay ngắn hạn tăng mạnh qua các năm đảm bảo tốt hơn sự phù hợp nguồn huy động ngắn hạn từ dân cư và các tổ chức kinh tế với kỳ hạn của các khoản cho vay.
Từ đó cũng đảm bảo an toàn hơn cho ngân hàng trước các rủi ro về kỳ hạn, do cho vay trung và dài hạn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đồng thời không phát huy được các dịch vụ phi tín dụng khác nên trong những năm gần đây BIDV đã có sự chuyển dịch cơ cấu cho vay từ trung và dài hạn sang cho vay ngắn hạn. Kết quả này cho thấy cơ cấu này đã thay đổi đáng kể: dư nợ ngắn hạn có xu hướng tăng từ 58% SV: Nguyễn Thị Huệ Lớp: Kinh tế học 48 Chuyên đề tốt nghiệp năm 2005 lên 60,2% năm 2007 và 59,5% năm 2008 tương ứng với việc giảm dư nợ trung và dài hạn giảm từ 42% năm 2005 xuống 40,5% năm 2008. Mặt khác tỷ trọng của các khoản vay ngắn hạn trong tổng dư nợ luôn cao hơn so với các khoản vay dài hạn.2 Cơ cấu cho vay theo khách hàng 2.4 Cho vay khác 3.3 50% DN có vốn đầu tư nước ngoài 40% 30% DNNQD 49.2: Cơ cấu cho vay theo khách hàng của BIDV giai đoạn 2006-2009 Đánh giá và đổi mới nhận thức về môi trường hoạt động cho vay, BIDV đã có định hướng chuyển dịch cơ cấu khách hàng để nâng cao chất lượng theo hướng ưu tiên và đẩy mạnh cho vay DNNQD, doanh nghiệp vừa và nhỏ, tư nhân cá thể. Với định hướng như vậy, trong thời gian qua BIDV cũng thiết lập và tạo dựng được với các công ty và tập đoàn kinh tế tư nhân như: Tập đoàn Vĩnh phúc, Tập đoàn Khải Vy, Công ty Bitexco, Công ty EuroWindow, Công ty Cổ phần và Thương mại Vinpearl, Công ty Cổ phần Vincom.
Bên cạnh đó doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay và tương lai cũng là nhóm khách hàng mục tiêu của BIDV, chiếm 70% số lượng khách hàng doanh nghiệp nhưng dư nợ của nhóm khách hàng này chỉ chiếm dưới 35% tổng dư nợ. Tỷ trọng cho vay DNNN- nhóm đối tượng có rủi ro tín dụng cao hơn so với các nhóm khách hàng khác xét theo hiệu quả sử dụng vốn đang được giảm dần đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp. Cơ cấu đối với doanh nghiệp này đã giảm từ 49,3% năm 2006 xuống còn 25,6 % năm 2009, đồng thời dư nợ đối với DNNQD tăng từ 34,2% năm 2006 lên 56,3% năm 2009. Khách hàng cá nhân hiện đang chiếm 13,2% tổng dư nợ của ngân hàng SV: Nguyễn Thị Huệ Lớp: Kinh tế học 48 Chuyên đề tốt nghiệp 2.3 Cơ cấu cho vay theo loại hình cho vay Bảng 2.