Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh và đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong Ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Thăng Long giai đoạn 2008 - 2012 Chương 4: Một số giải pháp tăng cường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Thăng Long đến năm 2020. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại 2. Tổng quan về Ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm Ngân hàng thương mại Có nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại nhưng để đưa ra một khái niệm chính xác và tổng quát thì ta phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Theo Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác, số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Hay theo Luật Ngân hàng của Ấn Độ năm 1959 đã nêu: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Theo luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997 và được sửa đổi, bổ sung ngày 15/06/2004 xác định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: Ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Như vậy, chúng ta có thể xác định: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Vai trò của Ngân hàng thương mại Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, các hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng và phong phú, Ngân hàng thương mại trở thành một định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thứ nhất, Ngân hàng thương mại giúp thực thi chính sách tiền tệ.
Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về Ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ điều 8 tiết như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, thị trường mở, hạn mức tín dụng…Ngân hàng thương mại chính là các chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của các công cụ này và đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến khu vực phi ngân hàng và nền kinh tế. Ngược lại, thông qua ngân hàng thương mại và các định chế tài chính khác, các thông tin của nền kinh tế được phản hồi về cho Ngân hàng Trung ương để từ đó Chính phủ và Ngân hàng Trung ương sẽ có những chính sách điều tiết thích hợp đối với nền kinh tế. Thứ hai, Ngân hàng thương mại góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nội dung quan trọng điều tiết tiền tệ của Ngân hàng Trung ương là điều hòa khối tiền tệ.
Điều hòa khối tiền tệ, nghĩa là điều chỉnh việc tạo tiền và sử dụng tiền trong hệ thống ngân hàng hai cấp. Trong nền kinh tế, Ngân hàng Trung ương có thể điều tiết được khối lượng tiền phát hành thông qua các tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước. Phần tiền ngân hàng (tiền ghi sổ, bút tệ) được thực hiện thông qua chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại nên Ngân hàng Trung ương chỉ có thể quản lý gián tiếp thông qua các công cụ, chính sách tiền tệ mà thôi. Tiền ngân hàng do ngân hàng thương mại tạo ra thông qua cấp tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt là tiền trên các tài khoản thanh toán séc.
Nó được tạo ra từ sự mở rộng gấp nhiều lần quỹ dự trữ ngân hàng (thông qua hệ số tạo tiền). Khi các nước có nền kinh tế càng phát triển, tiền của hệ thống Ngân hàng thương mại chiếm khối lượng càng lớn trong tổng khối lượng tiền tệ lưu thông và nền kinh tế càng hiện đại sẽ sử dụng càng nhiều hơn tiền ngân hàng. Chính chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại đã góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại - Hoạt động huy động vốn Ngoài nguồn vốn tự có (vốn điều lệ và các quỹ), hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng thương mại trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh doanh.
Trong hoạt động này, ngân hàng thương mại được sử dụng các công cụ và biện pháp mà pháp luật cho phép để huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại bao gồm: Nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá; Vay vốn (vay của Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng thương mại khác hoặc ngân 9 hàng nước ngoài thông qua hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn, bổ sung vốn thanh toán bù trừ hay thông qua thị trường liên ngân hàng…); Huy động vốn khác ( Nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng, ngân sách nhà nước, các tổ chức tài chính quốc tế để tài trợ các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, cải tạo môi trường môi sinh…). Ngoài ra ngân hàng thương mại còn huy động được nguồn vốn phát sinh trong quá trình làm đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng… để bổ sung nguồn vốn huy động phục vụ hoạt động kinh doanh. - Hoạt động tín dụng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cấu thành nên tài sản có và có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. - Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: bao gồm các dịch vụ như: Dịch vụ cung ứng các phương tiện thanh toán (mở tài khoản tiền gửi, séc, ủy nhiệm chi, thẻ thanh toán…); Dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng; Dịch vụ thanh toán quốc tế (Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quý, giao dịch liên quan đến L/C, chuyển tiền quốc tế, bao thanh toán quốc tế, giao dịch hàng hóa tương lai.); Dịch vụ thu hộ, chi hộ cho các tổ chức và cá nhân; Dịch vụ ngân hàng điện tử và các sản phẩm dịch vụ khác (tư vấn tài chính, giữ hộ tài sản, thanh toán séc…). - Các hoạt động khác: Góp vốn đầu tư, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác; Tham gia thị trường tiền tệ (thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc, thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định của ngân hàng nhà nước); Hoạt động ủy thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng; Hoạt động kinh doanh bảo hiểm; Kinh doanh dịch vụ chứng khoán và các hoạt động khác (bảo quản hiện vật quý hiếm, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật).
Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về cạnh tranh, chiến lược cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 10 Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, khái niệm cạnh tranh đã xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển sản xuất, trao đổi hàng hoá và phát triển kinh tế thị trường. Có nhiều quan điểm khác nhau khi nói về cạnh tranh, theo K. Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Michael Porter lại cho rằng: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là: “Sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.
Qua các quan điểm trên, cạnh tranh có thể được hiểu là các mối quan hệ kinh tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi tổ chức. Có thể nói rằng cạnh tranh giữ vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế. Vì vậy, các tổ chức đều cố gắng tìm cho mình một chiến lược phù hợp để chiến thắng trong cạnh tranh.
Chiến lược cạnh tranh là một tập hợp các chuỗi hoạt động được thiết kế nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh bề vững cho doanh nghiệp. Chiến lược cạnh tranh xoay quanh vấn đề tiềm lực của doanh nghiệp, điểm mạnh, điểm yếu trong mối liên hệ với đặc trưng thị trường và tiềm lực tương ứng, điểm mạnh và điểm yếu của đối thủ cạnh tranh. Trong cạnh tranh sẽ phát sinh ra người có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả năng cạnh tranh yếu hay sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu.