Chương I: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Chương II: Thực trạng cạnh tranh của ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam Chương III: Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam giai đoạn 2018 — 2023 11 CHUONG I: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VE NANG LỰC CẠNH TRANH CUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về năng lực cạnh tranh cia NHTM 1. Khái niệm về cạnh tranh trong ngành Ngân hàng 1. Khái niệm cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh Cạnh tranh nói chung, hay cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh nói riêng là những khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo phạm vi và quy mô của chủ thé cạnh tranh.
a) Khái niệm “cạnh tranh ” Theo quan điểm cạnh tranh cô điển, C.Mác cho rằng “cạnh tranh” là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa đề thu được lợi nhuận siêu ngạch. Mặt khác, nhà kinh tế học Michael Porter khang định cạnh tranh là giành lấy thi phần. Ông chỉ ra bản chất của cạnh tranh là việc tìm kiếm lợi nhuận, là mức lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Quá trình cạnh tranh dẫn đến sự bình quân hóa lợi nhuận của các doạnh nghiệp trong nhanh, kéo theo sự hệ quả là nguy cơ giảm giá sản phẩm, dịch vụ Theo quan điềm cạnh tranh trong cơ chế thị trường, từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) có ghi rằng “cạnh tranh” là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”.
Mặt khác, tiếp cận dưới góc độ chủ thê cạnh tranh, từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) ghi nhận: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các doanh nhân, các nhà kinh doanh trong nên kinh tế thị trường bi chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm tránh các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”. Nhìn nhận từ quy mô toàn cau, theo tác giả Đoàn Hùng Nam trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh dua gay gắt dé giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất. [2 Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”. Áp dụng vào bối cảnh kinh tế hiện nay, cạnh tranh được hiểu là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp dé giành phan thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình, điển hình như thị phần, lợi nhuận, an toàn, hay danh tiếng.
Như vậy, các quan điểm về khái niệm cạnh tranh cho thấy, cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, chứ không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thế tham gia. Cạnh tranh giúp các chủ thê tham gia nhận thức và tận dụng được những lợi thế của bản thân; xác định được những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội, thách thức trong tương lai, để từ đó có những hướng đi và chiến lược có lợi nhất cho doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình cạnh tranh nhằm mục tiêu bền vững là tối đa hóa lợi nhuận. b) Khái niệm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Dựa trên cơ sở khái niệm “cạnh tranh” nói chung và khái niệm “cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh”, cùng với những đặc điểm của ngành ngân hàng, có thé hiểu khái niệm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng như sau: “Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng” là sự tranh đua giữ những ngân hàng thương mại với nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp đề giành phần thắng trong thị trường trong việc thu hút khách hàng, mở rộng thị phần và xây dựng uy tín, thương hiệu nhằm khắng định vị trí của ngân hàng vượt lên khỏi các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động. Đặc trưng về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt với những hoạt động kinh doanh ngân hàng đặc thù, riêng biệt và có tác động đáng kể đối với nền kinh tế.
Chính vì vậy, cạnh tranh của NHTM cũng có những đặc trưng riêng, cụ thê là: a) Các NHTM vừa cạnh tranh gay gat vừa hợp tác với nhau (1) Các NHTM cạnh tranh gay gắt với nhau Tương tự như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các NHTM luôn cần phải cạnh tranh gay gắt với nhau dé mở rộng thị trường và thu hút khách hàng nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của từng cá thể. 13 Tính chất gay gắt trong cạnh tranh ngân hàng xuất phát từ đặc thù của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là có tính tương đồng cao, rất dễ bắt chước, trong khi giá cả trong hoạt động ngân hàng lại khá hạn chế về mức độ chênh lệch. Thêm nữa, trong cạnh tranh, các ngân hàng không chỉ sử dụng các công cụ mang tính truyền thống, tiêu biểu như phí, lãi suất và các dịch vụ ngân hàng mà còn sử dụng công nghệ hiện đại đề đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, tính thần, thái độ phục vụ khách hàng. (2) Các NHTM hợp tác với nhau Mặt khác, hiện nay, điều kiện về vốn, mạng lưới, công nghệ còn nhiều hạn chế trong khi nhu cau, đòi hỏi về sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ngày càng cao.
Chính vì vậy, các ngân hàng cũng phải liên kết với nhau đề cùng cung cấp một hay một số sản phẩm dịch vụ nhất định cho khách hàng. Đặc biệt trong tác nghiệp, các NHTM vẫn phải hợp tác với nhau để thực thi các chức năng có tính hệ thống như thanh toán bù trừ, cung cấp thông tin khách hàng cho nhau đề giảm thiểu rủi ro khách hàng gian lận, ngăn chặn tác động dây chuyền làm sụp dé hệ thống. Các NHTM cạnh tranh với nhau trong mối quan hệ biện chứng của các bộ phận hợp thành hệ thống. Như vậy, để tránh đồ vỡ toàn bộ hệ thống cũng như tiết kiệm chi phí, đảm bảo an toàn trong kinh doanh, các NHTM một mặt cạnh tranh với nhau, một mặt lại hợp tác chặt chẽ với nhau trong cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng b) Chủ thể cạnh tranh đa dạng Trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập ngày nay, số lượng và loại hình chủ thể phi ngân hàng tham gia cạnh tranh trong việc kinh doanh hoạt động ngân hàng ngày càng tang cao.
(1) Chủ thể cạnh tranh trong nước Các chủ thê phi ngân hàng bao gồm: các công ty tài chính, các quỹ tín dụng, các hình thái tiết kiệm như tiết kiệm bưu điện, điện lực, dầu khí, hóa chất,. các doanh nghiệp bảo hiểm, các doanh nghiệp thương mại (cung cấp tín dụng thương mại,. Các định chế tài chính phi ngân hàng, mặc dù không phải là ngân hàng, không được phép kinh doanh toàn bộ hoạt động của một ngân hàng, nhưng được phép kinh doanh một hoặc một số hoạt động mang tính ngân hàng. Các định chế này được thành 14 lập trên cơ sở khai thác lợi thế tiềm năng của họ thông qua quá trình hoạt động.
Những hoạt động ngân hàng có tính phụ thêm trên cơ sở bắt nguồn từ hoạt động chính, hoặc được thành lập từ ban đầu do không đủ điều kiện dé thành lập ngân hàng mà chỉ được phép hoạt động một vài sản phẩm ngân hang. Chủ thể này có thé sẽ là các ngân hàng tiềm năng trong tương lai khi có đủ điều kiện. (2) Chủ thê cạnh tranh nước ngoài Các chủ thể cạnh tranh với các NHTM trong điều kiện hội nhập không chỉ là các NHTM, các định chế tài chính phi ngân hàng trong nước mà còn cả các NHTM, các định chế tài chính phi ngân hàng đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới. Đối với các nước đang phát triển, những đối thủ đến từ các quốc gia trên thế giới là những ngân hàng, tập đoàn tài chính có tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động ngân hàng trong một nền kinh tế thị trường.
Cùng với đó, quá trình hội nhập cũng hình thành nên các tổ chức tài chính khu vực quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam đang tiến vào quá trình hội nhập sâu rộng, các tổ chức này cũng có thể là những đối tác tham gia cạnh tranh với các NHTM trong nước. c) NHTM luôn phải hướng tới một thị trường với môi trường cạnh tranh lành mạnh Các NHTM phải cạnh tranh lành mạnh thông qua các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng đề đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngày càng tốt hơn. Với đặc trưng là kinh doanh tiền tệ, nếu các ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh hoặc cạnh tranh thông qua việc tăng lãi suất huy động tiền gửi, giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ, nới lỏng các điều kiện tín dụng,. sẽ làm cho nguồn thu của các ngân hàng giảm sút, nguy cơ tiềm ân rủi ro tín dụng tăng cao dẫn đến rủi ro hệ thống.
Với đặc trưng là kinh doạnh dựa trên sự tín nhiệm của khách hàng, nếu một ngân hàng có nguy cơ thua lỗ, phá sản, khách hàng sẽ đồng loạt đến rút tiền, gây tâm lý hoang mang cho khách hàng gửi tiền tại các NHTM khác. Điều này dẫn đến khả năng đồ vỡ theo hiệu ứng Domino mang tính hệ thống và sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Do đó, ngay cả khi cạnh tranh với nhau nhưng trong hoạt động các NHTM vẫn phải liên kết với nhau dé giữ mặt bằng giá phù hợp, đảm bảo lợi ích chung và tránh rủi ro hệ thống. 15 d) Cạnh tranh giữa các NHTM luôn chịu sự tác động của môi trường bên ngoài và chịu sự chỉ phối mạnh mê của chính sách tiền tệ của Nhà nước Các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu của những đối tượng khách hang cụ thé.
Trong khi đó, các khách hàng của ngân hàng lại rất đa dạng như khách hàng là các tô chức, các cá nhân thuộc mọi thành phan của nén kinh tế.