Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Trong tiến trình phát triển của thế giới, khái niệm cạnh tranh đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau.
Các quốc gia, các tổ chức cạnh tranh nhau về sự lớn mạnh của kinh tế, độ bành trướng thế lực chính trị trên bản đồ thế giới, về sự phát triển của xã hội và đời sống con người. Tuy nhiên, khái niệm cạnh tranh được nhắc đến nhiều nhất là trong lĩnh vực kinh tế, bởi đây là lĩnh vực mà sự cạnh tranh được thể hiện rõ nét và sinh động nhất. Trong thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản chiếm thế thượng phong, Các Mác đã đưa ra quan điểm của mình về sự cạnh tranh tư bản như sau: “Cạnh tranh tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để đạt được lợi nhuận siêu ngạch”. Đến thế kỷ XX, khi nền kinh tế thế giới đã có những bước phát triển nhảy vọt thì cạnh tranh được nhắc đến như là một yếu tố không thể thiếu của nền kinh tế thị trường.
Theo Báo cáo về cạnh tranh năm 2003 của Liên hợp quốc thì “Cạnh tranh là một quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp để đạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, khách hàng cũng như đảm bảo nguồn tiêu thụ để nâng cao vị thế của mình” Như vậy, mặc dù diễn tả theo những cách khác nhau, nhưng hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh chính là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trường và khách hàng. Khái niệm này bao gồm các nội dung chủ yếu đó là: (1) Sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trường và khách hàng 4 (2) Mục đích trực tiếp của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận siêu ngạch (3) Cạnh tranh diễn ra trong môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ và tập quán quốc gia, quốc tế về kinh doanh (4) Về hình thức thì các bên tham gia có thể cạnh tranh bằng đặc tính ưu việt của sản phẩm, cạnh tranh thông qua giá bán (chính sách giá theo từng thời kỳ kinh doanh, theo sự biến động của thị trường), cạnh tranh về kênh tiêu thụ sản phẩm, hình thức thanh toán…. Năng lực cạnh tranh Dưới góc độ một đơn vị của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể tự duy trì và nâng cao vị trí của mình một cách lâu dài và bền vững trên thị trường. Năng lực cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các doanh nghiệp khác.
Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trường mà không có năng lực cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh yếu hơn các đối thủ thì sẽ rất khó để tồn tại và phát triển. Quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệp phải là một quá trình lâu dài, được duy trì liên tục, và năng lực cạnh tranh chính là chìa khóa để duy trì sức mạnh đó. Một cách cơ bản nhất, doanh nghiệp được xem là có năng lực cạnh tranh khi nó có thể thường xuyên đưa ra các sản phẩm, dịch vụ có ưu thế vượt trội với mức giá bán hợp lý so với các đối thủ khác trong điều kiện tối thiểu hóa chi phí nhằm chiếm lĩnh thị phần và tăng được lợi nhuận, uy tín trên thị trường. Các nhân tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định dựa vào các ưu thế cạnh tranh của nó, cụ thể đó là: Uy tín và mức độ nổi tiếng của thương hiệu doanh nghiệp: Đó là sự tin tưởng của khách hàng khi tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và khi lựa chọn giữa các sản phẩm cùng loại thì khách hàng sẽ ưu tiên sử dụng thương hiệu có uy tín hơn.
5 Khả năng thích ứng: Là khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo sự tồn tại và phát triển. Sự linh hoạt, nhạy bén của đội ngũ quản lý doanh nghiệp: Sự nhạy bén của những người quản lý doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội sản xuất kinh doanh, cơ hội phát triển thị phần. Kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường: Bao gồm các chiến lược và phương án kinh doanh hợp lý phù hợp với sự biến động của thị trường trong từng thời kỳ. Hệ thống đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ: Là các tiêu chuẩn chất lượng mà doanh nghiệp áp dụng nhằm đảm bảo cho chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình.
Qua việc áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, khách hàng sẽ có thêm sự tin tưởng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Lợi thế về vốn và chi phí: Đây là một nhân tố rất quan trọng khi sản phẩm của các doanh nghiệp trên thị trường là tương đối đồng nhất thì việc giảm giá sản phẩm, dịch vụ là một biện pháp rất có hiệu quả để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: - Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
- Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". - Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí 6 gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Giống như bất cứ loại hình đơn vị nào trong kinh tế thị trường, các NHTM luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt. Khả năng cạnh tranh của mỗi NHTM có thể mạnh, yếu khác nhau, điều này được thể hiện qua các sản phẩm, dịch vụ cung cấp có tính cạnh tranh không giống nhau. Do các NHTM cũng là một loại hình doanh nghiệp nên năng lực cạnh tranh của NHTM cũng chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đặc thù trong năng lực cạnh tranh của NHTM có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
Điều này xuất phát từ đặc thù hoạt động tài chính của các NHTM. Hoạt động tài chính của các NHTM không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi khách hàng, đến lợi nhuận, doanh thu của chính NH mà còn có thể tác động dây chuyền, tạo hiệu ứng tích cực hoặc tiêu cực đến hệ thống các định chế tài chính trung gian nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Do đó, một mặt các NHTM cần đảm bảo tính cạnh tranh trong hoạt động dịch vụ nhưng mặt khác vẫn cần hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau để ổn định thị trường, tạo niềm tin cho khách hàng. Như vậy, năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các NHTM khác, là nỗ lực hoạt động đồng bộ của NH khi cung ứng cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, chi phí rẻ nhằm khẳng định vị trí của NH so với các NH khác trong cùng lĩnh vực hoạt động.
So với sự cạnh tranh của các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các NH có những đặc trưng nhất định. Một là, các đối thủ cạnh tranh trong sự ganh đua nhưng cũng có sự hợp tác với nhau trong một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt. 7 Hai là, cạnh tranh NH luôn phải hướng tới một thị trường có sự ổn định nhất định, tránh xảy ra rủi ro hệ thống. Ba là, cạnh tranh của các NH trên thị trường có sự can thiệp gián tiếp và thường xuyên của NH trung ương của mỗi quốc gia.
Bốn là, cạnh tranh NH phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố khách quan NH như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạ tầng cơ sở… Năm là, cạnh tranh NH nằm trong vùng ảnh hưởng thường xuyên của thị trường tài chính quốc tế. Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là sẽ không có sự biểu hiện của kinh tế thị trường nếu không có cạnh tranh. Để phát triển kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thì các quốc gia phải chấp nhận sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Thực tế cho thấy trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hội nhập, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính NH, qua đó các NH không ngừng mở rộng thị phần và quy mô hoạt động bằng cách vươn tới các thị trường quốc tế.
Xu hướng quốc tế hóa hoạt động NH đã đặt các NHTM trước áp lực cạnh tranh lớn, đó là sự cạnh tranh giữa các NHTM với nhau và giữa NHTM với các tổ chức tài chính phi NH. Xu hướng này sẽ tác động đến khách hàng theo hướng họ có nhiều sự lựa chọn hơn, vì vậy nhu cầu và đòi hỏi của khách hàng trong việc nâng cao chất lượng, loại hình dịch vụ sẽ cao hơn đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến NH.