Chương 1: Tổng quan. Chương 2: Hệ số phân bố công suất PTDF và khả năng truyền tải ATC. Chương 3: Nâng cao ATC sử dụng thiết bị FACTS. Chương 4: Kết quả mô phỏng.
Chương 5: Kết luận và hướng phát triển đề tài. 6 CHƯƠNG 2 HỆ SỐ PHÂN BỐ CÔNG SUẤT PTDF VÀ KHẢ NĂNG TRUYỀN TẢI ATC 2.1 Giới thiệu Trong thị trường điện, việc truyền tải công suất qua khoảng cách xa để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu tiêu thụ điện, đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện, và thường xuyên được thực hiện thông qua các hoạt động trao đổi mua bán. Với tính chất như vậy thì điện năng được xem như là một mặt hàng kinh doanh. Hàng năm các máy phát điện, đường dây truyền tải thường xuyên được bảo dưỡng.
Các công ty có thể mua điện từ các nguồn điện khác nhau để phục vụ cho nhu cầu cá nhân thay vì giảm bớt tải. Đôi khi, một khu vực này có thể mua điện từ khu vực khác chỉ đơn giản là do giá bán tại khu vực đó thấp hơn so với giá trong khu vực. Để đảm bảo được ổn định thị trường điện và an ninh hệ thống điện, theo Hội Đồng Điện Bắc Mỹ (NERC), tất cả các công ty điện lực có liên kết với nhau phải gửi giá trị ATC cập nhật trên hệ thống truy cập mở thông tin đồng thời(OASIS) sau mỗi lần giao dịch mới được thực hiện. Giá trịATC cho biết lượng công suất có thể truyền tải tăng thêm giữa các vùng mà không làm mất ổn định hệ thống.
Trong thị trường điện liên thông giữa các khu vực, sự thiếu hụt công suất của vùng này có thể được thay thế công suất từ các khu vực khác. Cho nên, việc tính toán ATC rất hữu ích cho việc tìm kiếm khả năng tăng thêm công suất giao dịch giữa các vùng và đồng thời cũng là một công cụ rất cần thiết trong thị trường giao dịch công suất trong ngày. Thông tin ATC sẽ giúp cho đơn vị vận hành hệ thống độc lập (ISO) tìm thấy hướng truyền công suất một cách hiệu quả nhất trong thị trường điện. Nó cũng giúp cho người tham gia thị trường điện có chiến lược chào giá khi xãy ra tắc nghẽn.
Bên cạnh việc tăng tính kinh tế và hiệu quả của hệ thống, các khái niệm về khả năng truyền tải có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả 7 vận hànhcủa hệ thống điện. Nếu một hệ thống có thể đáp ứng được số lượng lớn công suất truyền tải cho nhiều khu vực thì hệ thống đó thường có tính linh hoạt cao và an toàn hơn so với một hệ thống bị giới hạn công suất truyền tải. Ngoài ra, khả năng truyền tải còn lại giữa hai khu vực còn được sử dụng để phục vụ cho việc cải thiện khả năng truyền tải trong tương lai. Việc tính toán khả năng truyền tải còn lại của hệ thống truyền tảiđã được đề cập đầu tiên vào những năm 1970 bởi Landgren et al (1972), nhưng vấn đề này đã không nhận được sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu cho đến khi Ủy ban điều tiết năng lượng liên bang (FERC) bắt buộc thực hiện theo điều khoản 888 (NERC, 1996) và 889 (FERC, 1996).
Các điều khoản này qui định hệ thống truyền tải cần phải được truy cập mở cho những người tham gia buôn bán và yêu cầu các thông tin ATC của hệ thống truyền tải phải được tính toán và đăng trên OASIS. Một thời gian ngắn sau đó trong cùng một năm, NERC đã thiết lập một khuôn khổ về định nghĩa và đánh giá ATC. ATC được xác định bởi NERC được xem như là khả năng truyền tải cho phép trong mạng truyền tảivà là một trong những thông số kỹ thuật giúp cho các trung tâm vận hành hệ thống có quy hoạch phát triển các hoạt động giao dịch công suất trong thị trường điện.2 Định nghĩa khả năng truyền tải và các thông số liên quan 2.1 Khả năng truyền tải ATC Theo NERC khả năng truyền tải ATC là khả năng truyền tải còn lại của lưới điện trên một đường dây hoặc nhóm đường dây từ điểm phát đến điểm nhận của hệ thống điện sao cho các thông số về điện phải nằm trong giới hạn vật lý. Đây là công suất truyền tải cho phép tăng thêm ngoài công suất truyền tải hiện có trong hợp đồng cam kết và được sử dụng trong các hoạt động giao dịch trong tương lai.
Về mặt toán học thì ATC được định nghĩa là tổng khả năng truyền tải TTC trừ đi độ tin cậy truyền tải dự trữ TRM trừ cho tổng công suất truyền tải hiện có (bao gồm dịch vụ khách hàng bán lẻ) ETC và độ dự trữ lợi ích CBM. ATC có thể được trình bày theo công thức như sau [18]: ATC = TTC – TRM – CBM – ETC (2.1) 8 ATC giữa hai khu vực là một lượng công suất có thể được truyền tải thêm từ khu vực này đến khu vực khác trong một khung thời gian cụ thể và một điều kiện cụ thể. ATC là một lượng công suất động vì nó là một hàm số trong đó các biến số và tham số phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, ATC được tính toán và cập nhật một cách định kỳ.
Do hệ thống điện bị ảnh hưởng của nhiều điều kiện, nên tính chính xác của việc tính toán ATC phụ thuộc rất nhiều vào sự chính xác và đầy đủ của dữ liệu hiện có. Tính toán ATC phải được bao hàm các nguyên lý như bên dưới (Saucer & Grijalva, 1999): Cung cấp chỉ số khả năng truyền tải phải hợp lý và tin cậy. Xác định trong kiện thời gian biến thiên, truyền tải công suất đồng bộ, và song song. Xem xét phụ thuộc vào điểm bơm vào hoặc rút công suất ra.
Xem xét sự phối hợp các vùng. Phối hợp hợp lý các trạng thái không chắc chắn và khả năng đáp ứng cung cấp. Luôn xác định khả năng truyền tải và các giới hạn liên quan khác được kết hợp với nhau: Giới hạn nhiệt quá tải. Giới hạn ổn định điện áp.
Giới hạn điện áp. Giới hạn phát công suất. Giới hạn phát công suất phản kháng. Giới hạn công suất tải.2 Tổng khả năng truyền tải TTC Tổng khả năng truyền tải được định nghĩa là lượng công suất lớn nhất có thể truyền tải trên đường dây của lưới truyền tải điện, hoặc truyền từ vùng này sang vùng khác thông qua đường dây liên lạc mà không vi phạm các giới hạn vật lý, đặc 9 tính kỹ thuật trong chế độ làm việc bình thường và sự cố của hệ thống để đảm bảo tính ổn định và an toàn của hệ thống.
Giới hạn nhiệt: Cho phép dòng điện tải trên đường dây truyền tải hoặc thiết bị điện tối đa là bao nhiêu mà nó có khả năng chịu đựng trong khoảng thời gian xác định nào đó trước khi nó bị hư hỏng vĩnh viễn do quá nhiệt, hoặc trước khi nó vi phạm yêu cầu an toàn chung. Giới hạn điện áp: Các biến đổi điện áp phải được di trì trong giới hạn nhỏ nhất và lớn nhất cho phép nào đó. Trong giới hạn này mà công suất truyền tải không phải là nguyên nhân gây ra sự hư hỏng cho hệ thống điện hoặc các thiết bị của khách hàng. Sự sụp đổ điện áp lan rộng của hệ thống điện cũng là nguyên nhân gây ra mất điện một phần hoặc toàn bộ lưới điện liên kết.
Giới hạn ổn định: Lưới truyền tải điện năng phải có khả năng vượt qua sự mất ổn định thoáng qua từ vài mili giây đến vài phút. Tất cả các máy phát được kết nối với nhau hoạt động đồng bộ và cùng tần số để truyền tải điện AC. Giả sử hệ thống điện bị mất ổn định thì lập tức các máy phát bị dao động mất ổn định có thể làm thay đổi tần số, công suất tải, điện áp của hệ thống. Để hệ thống điện ổn định thì những dao động bất ổn này phải được tắt dần khi hệ thống đạt được một điểm hoạt động ổn định mới.
Nếu điểm hoạt động ổn định mới được thiết lập chậm thì các máy phát hoạt động có thể bị mất đồng bộ với nhau, và kết quả là một phần hoặt toàn bộ hệ thống điện liên kết có thể không ổn định. Các giới hạn vật lý nêu trên có thể bị thay đổi theo thời gian và những thay đổi này làm cho việc xác định khả năng truyền tải trong tuong lai trở nên phức tạp. TTC = Minimum {Giới hạn nhiệt, giới hạn điện áp, giới hạn ổn định} (2.2) 10 Dòng công suất A đến B (MW) Giới hạn ổn định Giới hạn điện áp Giới hạn nhiệt Tổng khả năng truyền tải Thời gian Hình 2.1: Giới hạn tổng khả năng truyền tải.3 Độ tin cậy truyền tải dự trữ TRM TRM là lượng công suất dự trữ cần thiết để đảm bảo lưới điện liên kết được an toàn trước các diễn biến bất thường xẩy ra trong mức độ hợp lý của hệ thống điện. Tính toán TRM gắn liền cho những trường hợp không chắc chắn của hệ thống, kết hợp hiệu quả cho tính toán ATC và rất cần thiết cho việc đảm bảo độ tin cậy hoạt động của hệ thống trong những trường hợp hệ thống thay đổi.4 Độ dự trữ lợi ích CBM CBM là lượng công suất dự trữ cần thiết để truyền tải điện từ các hệ thống điện liên kết nhằm đảm bảo quyền truy cập vào sự phát điện từ các hệ thống liên kết với nhau để đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy cấp điện.5 Công suất truyền tải có cam kết ETC ETC là công suất chắc chắn sẽ được truyền tải trên đường dây tại thời điểm tính khả năng tải do hợp đồng đã được ký kết thỏa thuận.3 Tầm quan trọng của giá trị ATC Xu hướng hệ thống điện trên thế giới ngày càng tăng về kích thước và độ phức tạp do dân số tăng và công cuộc hiện đại hóa.
Vì vậy, các nước đã cho phép 11 các công ty tư nhân tham gia vào thị trường điện và phân phối năng lượng. Việc xuất hiện thị trường điện đã làm xuất hiện những công ty điện có công nghệ truyền tải tốt hơn. Việc tính toán khả năng truyền tải ATC cho biết lượng công suất có thể truyền tải tăng thêm giữa các vùng mà không làm mất ổn định hệ thống. Như vậy, giá trị ATC là một thông số quan trọng liên quan đến ổn định hệ thống.
Trong thị trường điện liên khu vực, sự thiếu hụt công suất của vùng này có thể được thay thế bằng nguồn từ các khu vực khác. Việc tính toán ATC rất hữu ích cho việc tìm kiếm khả năng tăng công suất giao dịch giữa các vùng mà vẫn đảm bảo ổn định hệ thống.