Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kỹ thuật "Hiệu năng gia cường kháng uốn của tấm CFRP cho dầm bê tông căng sau dùng cáp không bám dính" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phan Vũ Phương vào năm 2022 tại Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Dân dụng và Công nghiệp (mã số: 62580208). Công trình được hướng dẫn bởi PGS. Nguyễn Minh Long và PGS. Ngô Hữu Cường.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng vật liệu polymer gia cường sợi carbon (CFRP) có các đặc tính cơ lý như cường độ chịu kéo cao, trọng lượng riêng nhẹ, không bị ăn mòn, không dẫn điện, không nhiễm từ và quy trình thi công đơn giản. Giải pháp sử dụng tấm CFRP dán ngoài để sửa chữa và nâng cao khả năng chịu lực cho kết cấu bê tông cốt thép (BTCT) và bê tông ứng suất trước (BTUST) đã chứng minh được hiệu quả kỹ thuật so với các biện pháp truyền thống (như mở rộng tiết diện bằng lớp áo bê tông, bọc thép hình hoặc căng cáp ngoài). Tuy nhiên, phần lớn các công bố khoa học trước đây tập trung vào cấu kiện BTCT thông thường hoặc cấu kiện BTUST sử dụng cáp bám dính. Đối với cấu kiện BTUST dùng cáp không bám dính, số lượng nghiên cứu còn rất hạn chế và tồn tại các khoảng trống kỹ thuật:
- Chưa phản ánh đầy đủ và chưa định lượng hóa tường minh ảnh hưởng của tấm CFRP gia cường đến sự làm việc của cáp không bám dính và tổng thể ứng xử của dầm.
- Chưa khảo sát đầy đủ ứng xử của dầm BTUST dùng cáp không bám dính gia cường tấm CFRP dưới tác động của tải trọng lặp có biên độ dao động cao (vượt qua tải trọng gây nứt ban đầu).
- Đặc tính bám dính giữa tấm CFRP và bề mặt bê tông – yếu tố chi phối cơ chế phá hoại bong tách – hầu như chỉ được khảo sát gián tiếp qua các thí nghiệm kéo trượt một mặt phẳng đơn giản, chưa được khảo sát hệ thống trên cấu kiện dầm chịu uốn kích thước lớn dùng cáp không bám dính.
- Sự thiếu vắng hoàn toàn các điều khoản, chỉ dẫn thiết kế dành riêng cho dầm BTUST dùng cáp không bám dính gia cường tấm CFRP trong các tiêu chuẩn thiết kế quốc tế hiện hành.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua ba nội dung:
- Phân tích thực nghiệm đặc tính bám dính của tấm CFRP với bê tông trên dầm BTUST dùng cáp không bám dính và làm rõ sự khác biệt với đặc tính bám dính của tấm CFRP với bê tông trên các mẫu kéo trượt thông dụng hiện nay một cách có hệ thống.
- Phân tích thực nghiệm ứng xử và định lượng hóa hiệu quả gia cường kháng uốn của tấm CFRP cho dầm BTUST dùng cáp không bám dính.
- Xây dựng một mô hình bám dính - trượt của liên kết tấm CFRP - bê tông cho dầm BTUST dùng cáp không bám dính và đề xuất một công thức mới tính biến dạng của cáp trong dầm BTUST dùng cáp không bám dính có kể đến ảnh hưởng của tấm gia cường kháng uốn CFRP phục vụ cho quy trình thiết kế gia cường kháng uốn bằng tấm CFRP cho dầm BTUST dùng cáp không bám dính.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ứng xử bám dính của liên kết tấm CFRP - bê tông và khả năng chịu uốn của dầm BTUST căng sau sử dụng cáp không bám dính tiết diện chữ T được gia cường bằng tấm CFRP dán ngoài đáy dầm, kết hợp hoặc không kết hợp hệ neo dải chữ U bằng CFRP (U-wraps). Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở cấu kiện dầm giản đơn chịu uốn bốn điểm, thực hiện thực nghiệm quy mô phòng thí nghiệm (BKSEL) với hai mươi dầm kích thước lớn và bảy mẫu kéo trượt đơn, khảo sát tải trọng tĩnh đơn điệu và tải trọng lặp biên độ cao (đến 128.000 chu kỳ).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được hệ thống hóa qua các giai đoạn phát triển và phân nhánh nghiên cứu liên quan đến vật liệu FRP và gia cường kết cấu:
Về lịch sử và đặc tính vật liệu composite: Tác giả điểm lại việc dùng sợi rơm rạ trộn đất sét làm tường nhà từ thời cổ đại để hạn chế nứt vỡ và tăng khả năng chịu lực [56]. Sau Thế chiến II, vật liệu composite nền polymer gia cường cốt sợi (FRP) bắt đầu được ứng dụng trong lĩnh vực quân sự (vỏ tàu chiến, tàu ngầm, máy bay). Từ năm 1960, FRP được ứng dụng vào công trình dân dụng nhằm chống ăn mòn hóa chất trên bản mặt cầu và tường chắn biển [57]. Công trình của Meier (1987) [58] đánh dấu việc dùng tấm FRP dán ngoài thay thế bản thép gia cường cho dầm BTCT. Đến thập niên 1980, kỹ thuật này phát triển rộng ở châu Âu và Nhật Bản, sau đó phổ biến tại Bắc Mỹ và toàn cầu từ những năm 1990.
Về đặc tính cơ lý điển hình của sợi và chất kết dính: Luận án dẫn các số liệu từ [59], [60], [61] chỉ ra sợi carbon dòng PAN cường độ cao có mô đun đàn hồi 200–240 GPa, cường độ chịu kéo đạt 3500 MPa, biến dạng kéo đứt 1,8%; dòng sợi Pitch có mô đun đàn hồi lên tới 400–800 GPa, cường độ 3000–3500 MPa. Chất kết dính epoxy có mô đun đàn hồi 2,1–5,0 GPa, cường độ chịu kéo 35–100 MPa.
Về nghiên cứu dầm BTCT và dầm BTUST gia cường uốn bằng FRP:
- Đối với cấu kiện BTCT: Các công trình của Meier và cộng sự [11]–[17] đã xây dựng các nguyên lý dán ngoài bằng tấm composite.
- Đối với dầm BTUST dùng cáp bám dính: Các tác giả [18]–[26], [98] xác nhận tấm FRP làm tăng khả năng kháng uốn từ 20% đến 73% (và lên tới 167% đối với dầm không hư hỏng), làm chậm biến dạng cáp, cải thiện độ cứng sau nứt.
- Đối với dầm BTUST dùng cáp không bám dính: Chỉ có một số ít tác giả như [27]–[30], [62], [63] tiến hành khảo sát. Điển hình là nghiên cứu của Kim và cộng sự [29] đã thử nghiệm hiệu chỉnh công thức tính biến dạng của cáp bám dính trong AASHTO [103] để áp dụng cho cáp không bám dính, nhưng chưa xây dựng được cơ sở ứng xử tổng thể có xét đến cơ chế liên kết bám dính tiếp diện.
- Về tác động của tải trọng lặp: Nghiên cứu của [31] xác nhận tải lặp gây hiện tượng từ biến trong bê tông và thúc đẩy bong tách tấm sớm. Các công bố của [32], [55] khảo sát dầm cáp bám dính dưới tải lặp chỉ giới hạn ở biên độ nhỏ (cận trên tải lặp chỉ từ 83–121% tải nứt hoặc 24–33% tải cực hạn), chưa phản ánh tình trạng cấu kiện làm việc ở chu kỳ tải cao tiệm cận trạng thái giới hạn sử dụng.
- Về mô hình bám dính - trượt và cơ chế bong tách: Các nghiên cứu thực nghiệm bám dính chủ yếu dựa vào mô hình kéo trượt một mặt [39]–[48], kéo trượt hai mặt hoặc kéo uốn [49], [50]. Các dạng quan hệ bám dính - trượt gồm: tuyến tính, đàn - dẻo [73]–[75], làm mềm song tuyến tính của Neubauer và Rostásy [66], Monti và cộng sự [76], Nakaba và cộng sự [77], Savoia và cộng sự [78], Ferracuti và cộng sự [79], Lu và cộng sự [81]; và dạng làm mềm theo đường cong Popovics của Dai, Ueda, Sato [44], [45], Mazzotti và cộng sự [82], [83], Zhou và cộng sự [68], [84], [85]. Các công thức xác định cường độ bám dính tiêu biểu gồm công thức của Maeda và cộng sự [86], Chen và Teng [3], [92].
- Về cơ chế phá hoại: Luận án dẫn theo Teng và cộng sự [96] bốn dạng phá hoại cơ bản trong cấu kiện BTCT dán FRP; Smith và Teng [4] phân chia thành bong tách đầu mút tấm và bong tách do vết nứt uốn/uốn - cắt (bong tách kiểu IC). Các tiêu chuẩn CNR-DT 200 R1/2013 [1], ACI 440.2R-08/17 [2], fib Bulletin 14 [51], [52] xác định biến dạng bong tách dựa trên hiệu chỉnh từ số liệu kéo trượt phẳng thuần túy.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án tập trung giải quyết bài toán ứng xử tiếp diện thực tế của liên kết CFRP - bê tông ngay trên dầm BTUST dùng cáp không bám dính chịu uốn (thay vì mẫu kéo trượt phẳng đơn giản); định lượng sự biến thiên biến dạng cáp khi có sự tương tác của tấm CFRP; kiểm chứng ứng xử của dầm dưới tải lặp biên độ cao; và xây dựng mô hình bám dính - trượt cùng công thức biến dạng cáp để bổ sung vào tiêu chuẩn thiết kế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp cơ sở lý thuyết về cơ học phá hủy rạn nứt (fracture mechanics), lý thuyết phân tích biến dạng tương thích phi tuyến trên tiết diện cấu kiện bê tông chịu uốn, và cơ học môi trường liên kết tiếp diện. Trong dầm BTUST dùng cáp không bám dính, cáp di chuyển tự do trong ống bọc dẫn đến biến dạng của cáp phân bố đều dọc toàn bộ chiều dài tự do thay vì tương thích cục bộ tại từng tiết diện như cáp bám dính. Luận án phân tích sự làm việc của dầm dựa trên phương trình cân bằng nội lực, điều kiện biến dạng nén cực hạn của bê tông $\varepsilon_{cu}$, năng lượng bong tách tấm $\Gamma_{Fm}$, và sự suy giảm độ cứng dưới chu kỳ uốn lặp.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phân tích dữ liệu:
- Chế tạo và gia tải thực nghiệm 20 dầm BTUST tiết diện chữ T kích thước lớn (chiều cao $h = 350$ mm, bề rộng cánh $b_f = 350$ mm, bề dày cánh $h_f = 80$ mm, bề rộng sườn $b_w = 120$ mm, nhịp tính toán $L = 3600$ mm, chiều dài toàn phần $L_0 = 3800$ mm).
- Chế tạo và thí nghiệm kéo trượt đơn 07 mẫu bê tông dán tấm CFRP để đối chiếu trực tiếp cơ chế bám dính phẳng thuần túy với bám dính trên dầm uốn.
- Phân bố nhóm dầm:
- Nhóm M: Gồm các dầm nguyên vẹn trước khi gia cường, chịu tải trọng tĩnh đơn điệu.
- Nhóm RC: Gồm các dầm đã bị gia tải gây nứt trước khi dán tấm gia cường, chịu tải trọng tĩnh đơn điệu.
- Nhóm C: Dầm chịu tải trọng lặp biên độ cao theo hai pha (Pha 1 và Pha 2 với 128.000 chu kỳ lặp, cận trên $P_{upper,2} = 76$ kN), sau đó gia tải tĩnh đơn điệu đến khi phá hoại hoàn toàn.
- Thông số khảo sát biến thiên: Số lớp tấm gia cường CFRP đáy dầm (0, 2, 4, 6 lớp); cấu hình hệ neo dải U-CFRP (không neo, neo tập trung hai đầu dầm, neo phân bố kết hợp nhịp uốn và gối tựa).
- Dữ liệu và thiết bị thu thập: Sử dụng hệ thống cảm biến điện trở đo biến dạng (strain gauges - SG) gắn dọc tấm CFRP, trên cáp ứng suất trước, cốt thép dọc và bề mặt bê tông vùng nén; đầu đo chuyển vị biến trở LVDT xác định độ võng giữa nhịp; cảm biến lực (load cells); và thiết bị quang học theo dõi vết nứt.
| Nhóm vật liệu / Cấu kiện |
Chỉ tiêu cơ lý kỹ thuật |
Giá trị theo văn bản luận án |
| Tấm sợi carbon (CFRP) |
Loại sản phẩm: Carbotex UD 300 (ADCOS) |
Bề dày danh nghĩa $t_f = 0,167$ mm/lớp |
|
Cường độ chịu kéo danh định |
$f_{fu} \ge 3800$ MPa |
|
Mô đun đàn hồi kéo danh định |
$E_f \ge 230$ GPa |
|
Độ giãn dài cực hạn danh định |
$\varepsilon_{fu} = 1,7%$ |
| Chất kết dính |
Keo epoxy 2 thành phần: Carbotex Impreg |
Cường độ bám dính với bê tông $> 1,5$ MPa |
|
Mô đun đàn hồi keo $E_{epoxy}$ |
$2,5 - 3,5$ GPa |
| Cáp ứng suất trước |
Loại cáp: 7 sợi xoắn mác 1860 MPa |
Đường kính danh nghĩa $d_{np} = 12,7$ mm |
|
Diện tích danh nghĩa $A_p$ |
$98,7$ mm$^2$ |
|
Giới hạn chảy danh định $f_{py}$ |
$1670$ MPa |
|
Giới hạn bền kéo cực hạn $f_{pu}$ |
$1860$ MPa |
|
Mô đun đàn hồi danh nghĩa $E_p$ |
$195 - 200$ GPa |
| Cốt thép thường |
Thép dọc chịu kéo / nén (CB400V) |
Giới hạn chảy $f_y = 400$ MPa |
|
Thép đai chịu cắt (CB240T) |
Giới hạn chảy $f_{yw} = 240$ MPa |
| Bê tông dầm |
Cấp độ bền nén mẫu lập phương 28 ngày |
$f_{c,cube} = 45 - 50$ MPa |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan, mục tiêu, ý nghĩa và nội dung nghiên cứu
Chương 1 tổng thuật các nghiên cứu trong và ngoài nước về vật liệu FRP, liên kết bám dính tiếp xúc CFRP - bê tông và các mô hình tính toán khả năng chịu uốn của cấu kiện bê tông cốt thép cũng như bê tông ứng suất trước. Tác giả phân tích chi tiết các tiêu chuẩn thiết kế hiện hành gồm tiêu chuẩn Ý CNR-DT 200 R1/2013, tiêu chuẩn Mỹ ACI 440.2R-08/17, và hướng dẫn của fib Bulletin 14.
Văn bản chỉ ra rằng công thức tính biến dạng bong tách tấm $\varepsilon_{fd}$ theo ACI 440.2R:
$$\varepsilon_{fd} = 0{,}083\sqrt{\frac{f'c}{n E_f t_f}} \le 0{,}9,\varepsilon{fu}$$
được xây dựng thuần túy dựa trên các phép hồi quy từ thí nghiệm kéo trượt một mặt phẳng. Khi đưa vào tính toán cho dầm chịu uốn kích thước lớn dùng cáp không bám dính, công thức này không phản ánh được tác động của gradient mô men uốn, độ cong của dầm và biến dạng nứt uốn, dẫn đến việc đánh giá quá thấp khả năng làm việc thực tế của tấm CFRP. Chương này xác lập khung nghiên cứu, xác định mục tiêu và kế hoạch khảo sát 20 dầm chữ T cùng 7 mẫu kéo trượt đơn.
Chương 2: Chương trình thực nghiệm
Chương 2 mô tả toàn bộ quy trình thiết kế, gia công, chế tạo và kiểm tra thực nghiệm của 20 dầm BTUST căng sau không bám dính và 7 mẫu kéo trượt đơn. Các mẫu dầm có tiết diện chữ T được đúc tại xưởng thí nghiệm, bảo dưỡng và tạo ứng suất trước bằng kích thủy lực đơn sợi. Lực căng ban đầu trong cáp được theo dõi chặt chẽ qua cảm biến lực đặt tại đầu neo.
Quy trình tạo vết nứt trước cho nhóm dầm RC được thực hiện bằng cách gia tải tĩnh trước khi tiến hành dán các lớp tấm CFRP đáy dầm. Bề mặt bê tông vùng dán được mài phẳng, làm sạch bụi bẩn, lăn keo lót epoxy và dán từng lớp sợi carbon Carbotex UD 300 đúng quy chuẩn công nghệ. Hệ dải neo chữ U (CFRP U-wraps) được dán ôm sát hai bên sườn dầm nhằm khảo sát tác dụng ngăn chặn sự bong tách sớm của tấm đáy.
| Nhóm dầm |
Ký hiệu mẫu dầm thí nghiệm |
Số lớp đáy |
Tình trạng ban đầu |
Kiểu tải trọng |
Cấu hình hệ neo U-CFRP |
| Nhóm M |
M0 (đối chứng) |
0 |
Nguyên vẹn |
Tĩnh đơn điệu |
Không bố trí |
|
M2, M4, M6 |
2, 4, 6 |
Nguyên vẹn |
Tĩnh đơn điệu |
Không bố trí |
|
M4-AN2 |
4 |
Nguyên vẹn |
Tĩnh đơn điệu |
Neo dải U tập trung hai đầu dầm |
|
M4-AN3rl |
4 |
Nguyên vẹn |
Tĩnh đơn điệu |
Neo dải U phân bố giữa nhịp & gối |
| Nhóm RC |
RC0 (đối chứng) |
0 |
Đã tạo nứt trước |
Tĩnh đơn điệu |
Không bố trí |
|
RC2, RC4, RC6 |
2, 4, 6 |
Đã tạo nứt trước |
Tĩnh đơn điệu |
Không bố trí |
|
RC4-AN2 |
4 |
Đã tạo nứt trước |
Tĩnh đơn điệu |
Neo dải U tập trung hai đầu dầm |
|
RC4-AN3rl |
4 |
Đã tạo nứt trước |
Tĩnh đơn điệu |
Neo dải U phân bố giữa nhịp & gối |
| Nhóm C |
C0 (đối chứng) |
0 |
Nguyên vẹn |
Tải lặp & sau lặp |
Không bố trí |
|
C2, C4, C6 |
2, 4, 6 |
Nguyên vẹn |
Tải lặp & sau lặp |
Không bố trí |
|
C4-AN2 |
4 |
Nguyên vẹn |
Tải lặp & sau lặp |
Neo dải U tập trung hai đầu dầm |
|
C4-AN3rl |
4 |
Nguyên vẹn |
Tải lặp & sau lặp |
Neo dải U phân bố giữa nhịp & gối |
Chương 3: Đặc tính bám dính của liên kết giữa tấm CFRP và bê tông cho dầm bê tông ứng lực trước dùng cáp không bám dính
Chương 3 trình bày các phát hiện về cơ chế truyền ứng suất và dạng phá hoại của liên kết tiếp diện. Trong khi các mẫu kéo trượt đơn luôn phá hoại ở dạng trượt phá vỡ lớp vữa bề mặt bê tông mỏng, thì liên kết trong dầm BTUST uốn chịu tác động đồng thời của biến dạng nứt uốn (bong tách kiểu IC) và ứng suất trượt cục bộ.
- Phân bố biến dạng tấm CFRP trong dầm uốn có độ dốc lớn hơn rất nhiều tại các tiết diện lân cận vết nứt uốn so với sự truyền ứng suất trên mẫu kéo trượt đơn.
- Giá trị biến dạng bong tách thực nghiệm của tấm CFRP trên các dầm BTUST cáp không bám dính cao hơn đáng kể so với mẫu kéo trượt đơn thuần túy: chênh lệch đạt tới 250% đối với các dầm không dùng neo dải U, và lên tới 490% đối với các dầm có bố trí neo dải U-wraps.
- Kiểm chứng các mô hình dự đoán cường độ bám dính hiện hành (Chen & Teng, Neubauer & Rostásy, Khalifa) cho thấy các công thức này chỉ đánh giá được trung bình 42% cường độ bám dính thực tế trong dầm BTUST có neo dải U-wraps.
Chương 4: Hiệu năng gia cường kháng uốn của tấm CFRP cho dầm bê tông ứng suất trước dùng cáp không bám dính
Chương 4 cung cấp số liệu thực nghiệm toàn diện về hiệu quả chịu uốn:
- Khả năng kháng uốn: Tấm CFRP làm tăng tải trọng cực hạn của dầm lên đến 65% so với dầm đối chứng không gia cường. Tuy nhiên, mức độ gia tăng hiệu quả trên mỗi lớp giảm dần khi tăng số lớp sợi từ 2 lên 4 và 6 lớp (hiệu ứng phi tuyến theo số lớp).
- Kiểm soát nứt và độ cứng: Ở cấp tải giới hạn sử dụng, tấm CFRP giúp kiểm soát bề rộng vết nứt rất rõ rệt, làm giảm bề rộng vết nứt uốn tới 84% so với dầm đối chứng; đồng thời làm tăng chuyển vị dẻo cực hạn của dầm lên tới 65%.
- Ứng xử dưới tải trọng lặp (Nhóm C): Trong quá trình chịu tải lặp (128.000 chu kỳ), việc dán tấm CFRP giúp giảm chuyển vị dư tới 19%, giảm biên độ chuyển vị dao động tới 34%, và giảm bề rộng vết nứt lớn nhất tới 21% so với dầm không gia cường chịu tải tương đương.
- Tác động sau tải lặp: Tải lặp làm suy giảm độ cứng và khả năng kháng uốn ở giai đoạn sử dụng của dầm sau lặp (tăng bề rộng nứt khoảng 21%), nhưng không làm thay đổi đáng kể khả năng chịu tải cực hạn tại trạng thái phá hoại cuối cùng.
- Biến dạng cáp không bám dính: Do sự kiềm chế biến dạng kéo đáy dầm của tấm CFRP, tốc độ phát triển biến dạng trong cáp không bám dính chậm lại trong giai đoạn đầu, nhưng tại thời điểm phá hoại, cáp đạt được biến dạng cuối cùng cao hơn so với dầm không dán tấm.
- Vai trò của hệ neo: Cấu hình neo U-wraps phân bố đều (AN3rl) cho hiệu quả hạn chế bong tách vượt trội hơn so với neo tập trung hai đầu (AN2), ngăn ngừa phá hoại giòn và cải thiện độ dẻo của dầm.
Chương 5: Đề xuất công thức tính biến dạng cáp, mô hình và công thức xác định biến dạng bong tách của tấm CFRP
Chương 5 phát triển các công thức giải tích mới phục vụ thiết kế:
- Đề xuất mô hình bám dính - trượt mới: Luận án hiệu chỉnh mối quan hệ ứng suất bám dính - độ trượt ($\tau - s$) trên cơ sở xét đến ảnh hưởng của độ cứng dọc trục tấm gia cường $E_f t_f$, cường độ bê tông $f'_c$ và sự kẹp giữ của dải neo U-CFRP.
- Công thức xác định biến dạng bong tách tấm CFRP ($\varepsilon_{fd,pre}$): Tác giả thiết lập công thức tính biến dạng bong tách có kể đến độ cong dầm và tương tác vết nứt uốn, khắc phục tình trạng ước lượng quá an toàn của ACI 440.2R và CNR-DT 200.
- Công thức tính biến dạng cáp không bám dính ($\varepsilon_{ps,CFRP}$): Luận án đề xuất công thức mới xác định mức gia tăng ứng suất/biến dạng của cáp ứng suất trước không bám dính tại thời điểm dầm đạt khả năng kháng uốn cực hạn, có kể đến sự tham gia của độ cứng tấm CFRP:
$$\varepsilon_{ps,CFRP} = f(\varepsilon_{pe}, c/d_p, L_{ap}, E_f A_f)$$
Kết quả so sánh giữa tính toán lý thuyết và thực nghiệm trên 20 mẫu dầm cho thấy hệ số tương quan (CORR) cao, hệ số biến thiên (COV) thấp, xác nhận độ tin cậy của các đề xuất.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện trên 20 dầm BTUST căng sau dùng cáp không bám dính kích thước lớn và 07 mẫu kéo trượt đơn, làm rõ quy luật truyền lực tiếp xúc giữa tấm CFRP và bê tông dưới tác động uốn thực tế.
- Chứng minh và định lượng được sự sai khác căn bản giữa biến dạng bong tách của tấm CFRP trong dầm uốn so với mẫu kéo trượt phẳng đơn thuần (chênh lệch từ 250% đến 490%), khẳng định các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành đang đánh giá quá thấp khả năng làm việc của tấm CFRP trong dầm BTUST dùng cáp không bám dính.
- Xây dựng thành công mô hình toán học bám dính - trượt tiếp diện riêng biệt cho dầm BTUST cáp không bám dính gia cường tấm CFRP.
- Thiết lập công thức giải tích tính toán biến dạng của cáp ứng suất trước không bám dính tại trạng thái cực hạn có tích hợp thông số độ cứng của tấm dán đáy dầm CFRP.
Các đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng kỹ thuật:
- Cung cấp quy trình định lượng hiệu quả gia cường kháng uốn giúp kỹ sư kết cấu xác định chính xác số lớp CFRP cần dán, tránh lãng phí vật liệu do áp dụng sai công thức của dầm cáp bám dính.
- Định lượng hóa ảnh hưởng của tải trọng lặp biên độ cao (128.000 chu kỳ), khẳng định dầm gia cường bằng tấm CFRP kết hợp dải neo U vẫn duy trì khả năng chịu tải cực hạn ổn định trong giai đoạn sau lặp.
- Kiến nghị cấu hình bố trí neo dải chữ U bằng tấm CFRP dạng kết hợp nhịp uốn và vùng gối (AN3rl) thay vì chỉ neo tập trung ở hai đầu gối tựa (AN2) để ngăn chặn tối đa dạng phá hoại tách lớp bảo vệ bê tông (IC debonding).
- Cung cấp bộ công thức hoàn chỉnh để bổ sung vào tiêu chuẩn thiết kế gia cường kết cấu bê tông bằng tấm composite dán ngoài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Chương trình thực nghiệm chỉ giới hạn trên kết cấu dầm giản đơn tiết diện chữ T chịu uốn 4 điểm; chưa khảo sát hệ dầm liên tục nhiều nhịp – nơi xuất hiện vùng mô men âm tại gối tựa.
- Chỉ khảo sát loại cáp không bám dính đặt trong lòng cấu kiện (internal unbonded tendons), chưa mở rộng cho kết cấu căng cáp ngoài (external tendons).
- Tải trọng lặp mới dừng lại ở 128.000 chu kỳ nhằm mô phỏng tác động mỏi chu kỳ thấp đến trung bình; chưa thực hiện thí nghiệm mỏi chu kỳ cao (hàng triệu chu kỳ) để đánh giá giới hạn mỏi dài hạn của keo epoxy.
- Chưa khảo sát các yếu tố suy giảm liên kết do môi trường khắc nghiệt như chu kỳ nhiệt ẩm, tia cực tím hoặc môi trường xâm thực mặn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm và mô phỏng số cho hệ dầm BTUST liên tục có vùng mô men đổi chiều gia cường tấm CFRP.
- Khảo sát ứng xử của cấu kiện gia cường dùng cáp dự ứng lực ngoài kết hợp tấm CFRP.
- Thử nghiệm độ bền mỏi dài hạn của liên kết CFRP - bê tông dưới tải trọng lặp trên 2.000.000 chu kỳ.
- Nghiên cứu độ bền lâu dài của lớp keo kết dính epoxy và tấm sợi carbon trong môi trường khí hậu nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng chuyên sâu:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kỹ thuật Xây dựng: Luận án cung cấp phương pháp luận thực nghiệm quy chuẩn trên cấu kiện kích thước lớn, kỹ thuật dán cảm biến vi mô để bóc tách quy luật biến dạng bám dính - trượt, và phương pháp phân tích phi tuyến tiết diện bê tông ứng suất trước.
- Đối với kỹ sư kết cấu và đơn vị tư vấn sửa chữa công trình: Cung cấp chỉ dẫn trực tiếp về cấu tạo hệ neo dải U-wraps, tính toán kiểm tra khả năng chịu tải dầm cầu hoặc dầm sàn bê tông căng sau không bám dính cần nâng cấp tải trọng khai thác.
- Đối với ban soạn thảo tiêu chuẩn xây dựng: Các công thức tính biến dạng bong tách tấm $\varepsilon_{fd}$ và biến dạng cáp $\varepsilon_{ps,CFRP}$ ở Chương 5 là cơ sở thực tế trực tiếp để bổ sung các điều khoản tính toán cho cấu kiện BTUST dùng cáp không bám dính vào tiêu chuẩn thiết kế gia cường kết cấu bằng FRP trong nước và quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao biến dạng bong tách tấm CFRP trong dầm BTUST cáp không bám dính lại chênh lệch lớn (250% – 490%) so với mẫu kéo trượt phẳng đơn?
Trong mẫu kéo trượt đơn, liên kết chịu lực kéo trượt thuần túy trên mặt phẳng không có ứng suất uốn. Ngược lại, trong dầm BTUST uốn thực tế, sự phân bố ứng suất chịu tác động của độ cong dầm, gradient mô men, và đặc biệt là sự xuất hiện của các vết nứt uốn làm thay đổi cơ chế truyền lực; đồng thời hệ neo dải chữ U (CFRP U-wraps) giữ chặt mép dầm, cản trở sự tách lớp sớm của bê tông bảo vệ, cho phép tấm đáy đạt mức biến dạng kéo lớn hơn nhiều trước khi bị bong tách.
2. Tải trọng lặp ảnh hưởng như thế nào đến khả năng chịu lực của dầm BTUST cáp không bám dính gia cường CFRP?
Dưới tác động của 128.000 chu kỳ tải lặp có cận trên $P_{upper,2} = 76$ kN, độ cứng của dầm bị suy giảm do tích lũy biến dạng dẻo trong bê tông và nứt mỏi vi mô. Ở giai đoạn sau lặp, dầm bị giảm khả năng kháng uốn trong giai đoạn sử dụng (tăng chuyển vị dư và bề rộng vết nứt), tuy nhiên khả năng chịu lực cực hạn ở trạng thái giới hạn bền hầu như không bị suy giảm đáng kể so với dầm chỉ chịu tải tĩnh đơn điệu.
3. Tại sao việc tăng số lớp tấm CFRP từ 2 lên 4 và 6 lớp lại có hiệu quả gia cường không tỷ lệ thuận tuyến tính?
Khi tăng số lớp dán, độ cứng dọc trục của tấm CFRP ($E_f t_f$) tăng lên làm tăng ứng suất cắt tập trung tại mặt tiếp xúc giữa tấm và bê tông lân cận mép vết nứt uốn. Ứng suất cắt cục bộ tăng nhanh thúc đẩy hiện tượng bong tách giòn sớm của lớp bê tông bảo vệ (IC debonding) trước khi vật liệu composite phát huy tối đa cường độ chịu kéo cực hạn của nó.
4. Dạng bố trí neo dải U-CFRP nào mang lại hiệu quả cao nhất cho dầm BTUST cáp không bám dính?
Kết quả thực nghiệm xác nhận hệ neo dải U bố trí phân bố kết hợp giữa nhịp uốn và vùng gối tựa (cấu hình AN3rl) mang lại hiệu quả vượt trội so với bố trí tập trung ở hai đầu dầm (AN2). Cấu hình phân bố khống chế hiệu quả sự lan truyền của các vết nứt uốn dọc chiều dài nhịp, ngăn ngừa bong tách dọc lớp cốt thép đáy và giúp cấu kiện duy trì độ dẻo cao hơn.
5. Luận án giải quyết vấn đề không tương thích biến dạng của cáp không bám dính bằng giải pháp toán học nào?
Tác giả thiết lập công thức xác định biến dạng tính toán của cáp $\varepsilon_{ps,CFRP}$ thông qua phân tích biến dạng tổng thể của toàn bộ chiều dài dầm, tích hợp các tham số về tỷ số chiều cao vùng nén trên chiều cao làm việc ($c/d_p$), chiều dài cáp giữa hai đầu neo ($L_{ap}$), và bổ sung tham số độ cứng của tấm composite gia cường dán ngoài ($E_f A_f$).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Vũ Phương là công trình nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết hoàn chỉnh về ứng xử bám dính tiếp diện và khả năng gia cường kháng uốn của tấm CFRP cho dầm bê tông căng sau dùng cáp không bám dính. Luận án đã làm sáng tỏ sự khác biệt căn bản về cơ chế phá hoại bong tách giữa dầm chịu uốn thực tế và các mẫu kéo trượt quy ước, chỉ ra sự thiếu hụt và mức độ đánh giá quá thấp của các tiêu chuẩn thiết kế quốc tế hiện hành. Các mô hình bám dính - trượt và công thức tính biến dạng cáp được đề xuất trong công trình cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để bổ sung vào tiêu chuẩn tính toán thiết kế gia cường kết cấu bê tông ứng suất trước bằng vật liệu composite.