CHƯƠNG 1: ĐẶT VAN DE liệu FRP dán ngoài hiện nay như ACI 440.2R (2017) và CNR-DT200 (2013) van chưa có các chỉ dẫn rõ ràng về trường hợp tải lặp. Các công thức tính toán chủ yếu van dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm tải tinh, cùng với các hệ số ảnh hưởng dài hạn định sẵn nếu không có số liệu thực nghiệm cụ thé (Daud et al. Trong khi, dưới tác dụng của tải trọng lặp, hiện tượng biến dạng dư của lớp keo nền (chất kết dính giữa tấm CFRP với bề mặt bê tông) có thé xảy ra do sự tích lũy biến dạng của lớp keo nền qua từng chu ky lặp; điều này gây nên sự gia tăng độ trượt của tam FRP và làm suy giảm khả năng bám dính của nó. Các vẫn đề vừa nêu trên cho thấy rất cần có những nghiên cứu liên quan đến việc khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của bề rộng tam đến ứng xử bám dính của tm FRP, đặc biệt với kết cau gia cường chịu tai lặp; đồng thời cần thiết xem xét cả ảnh hưởng của tương tác giữa tim FRP và cường độ bê tông đến khả năng bám dính nói riêng và hiệu quả gia cường của tấm FRP khi chịu tải lặp.
Đề tài này khảo sát và phân tích thực nghiệm ảnh hưởng của bề rộng tấm polymer cốt sợi carbon (CFRP) và cường độ bê tông đến ứng xử bám dính của tam CFRP với bê tông dưới tác dụng của tải trọng tĩnh đơn điệu va tải trọng lặp. Dựa trên kết quả thực nghiệm và mô hình lý thuyết từ một số nghiên cứu đã có, mô hình ứng suất bám dính - trượt tong quát của tam CFRP với bê tông được thiết lập phục vụ cho công tác nghiên cứu và tính toán trong lĩnh vực gia cường va sửa chữa kêt câu BTCT. CHƯƠNG 2: TÔNG QUAN Chương 2. _ Giới thiệu về vật liệu polymer cốt sợi gia cường 2.
Sơ lược về vật liệu FRP Vật liệu polymer cốt soi (Fiber Reinforced Polymer - FRP) là vật liệu composite gồm hai thành phan chính là cốt sợi (reinforcement) và vật liệu nền (matrix material). Sợi gia cường có thể là thủy tỉnh, carbon, aramid. quyết định tính chất, cường độ của FRP. Vật liệu nền thường làm từ nhựa polymer, ví dụ như epoxy.
Tùy vào nhu cầu sử dụng, vật liệu FRP có thể được sản xuất dưới dạng thanh hoặc tắm. Với đặc tính cường độ kéo cao, trọng lượng nhẹ, không bị ăn mòn vật liệu FRP thường được ứng dụng trong ngành chế tạo máy bay, ô tô, xây dung,. Vật liệu nền và chất kết dính trong vật liệu FRP là một loại nhựa polymer nhiệt ran (resin). Tuy thudc vao nhu cau str dung, điều kiện môi trường (nhiệt độ, độ âm,.), các loại nhựa thường được sử dụng là Epoxy, Polyester.
Epoxy có đặc trưng kháng âm, các chất hóa học, và có đặc tính kết dính tốt nên đây là loại nhựa thường được sử dụng nhất trong ứng dụng vật liệu FRP ngành xây dựng: Polyester có độ nhớt thấp hơn so với nhựa epoxy, tính hoạt hóa cao, nhưng độ bên cơ học và đặc tính kết dính thường thấp hơn so với các loại nhựa epoxy. Chất kết dính liên kết vật liệu FRP với vật liệu được gia cường và còn liên kêt các tâm FRP với nhau.1: Một số dạng FRP thông dụng trong ngành xây dựng: (a) dạng tâm; (b) dạng dải; (c) dạng thanh CHƯƠNG 2: TONG QUAN Mặc dù chi phi san xuất cốt sợi va nhựa tương đối đắt so với các vật liệu truyền thống như bê tông và thép, nhưng chi phí nhân công và thiết bị dé lap đặt hệ gia cường FRP thường thấp hơn. FRP thường được áp dụng trong các khu vực mà các kỹ thuật truyền thống khó thực hiện. Vật liệu FRP ngoài ưu điểm về cường độ, trọng lượng, khả năng chống ăn mòn ma còn đơn giản trong thi công, đảm bảo được tính thắm mỹ, tiết kiệm chỉ phí và thời gian hơn so với một số phương pháp truyền thống (căng sau bên ngoài — external posf-tensioning, gia cường bằng bản thép, tăng kích thước tiết diện) hay thay thế, xây mới một kết cau.
Tam FRP cốt soi carbon (CFRP) thường được sử dụng rộng rãi trong công tác gia cường cho kết cầu nhờ những tính chất nồi trội hơn so với các loại cốt sợi khác (Hình 2. Soi carbon có module đàn hỏi va độ bên rất cao theo phương của sợi, nhưng thấp hơn nhiều theo phương ngang (ứng xử dị hướng). Sợi carbon có ứng xử phá hoại giòn với khả năng hấp thụ năng lượng tương đối thấp; tuy nhiên, giới hạn bền lớn hơn so với sợi thủy tinh và sợi aramid (Hình 2. Soi carbon ít nhạy với từ biến và mỏi, và độ bền kéo chỉ giảm nhẹ theo thời gian (CNR DT200, 2013).
CHƯƠNG 2: TÔNG QUAN S000 4000 - Carbon (AS4) Carbon (1300) S-Glass 3000 F Aramid [StMrePsa] (Kevlar? 49) ⁄ 2000 E-Glass 1000 fF > 4 Deformation [°o] Hình 2.3: Quan hệ ứng suất - bién dang của vat liệu FRP (CNR DT200, 2013) Bang 2.1: So sánh thuộc tính cua cét soi, keo va thép [giá trị điển hình theo CNR DT200 (2013)] Young’s Cường độ Biến dạng Hệ số giãn Trọng Modulus kéo phá hoại nở nhiệt lượng E on E. Ol riéng p [Gpa] [Mpa] [2l [l0°°CT] [g/cm] E-glass 70 — 80 2000 — 3500 3.8 (yield) 350-600 (failure) CHƯƠNG 2: TONG QUAN Bang 2.2: Ti số di hướng tam FRP một phương (CNR DT200, 2013) Ei/E Ei/Gi 6,,/6,, a,/a, S-Glass/epoxy 2. Bám dính giữa FRP và bê tông Quan hệ bám dính của tâm FRP và bê tông là một yếu tố quan trọng trong kiểm soát ứng xử chịu lực của kết cầu BTCT gia cường với vật liệu FRP (Yao et al. Gia cường kết câu với FRP đòi hỏi việc lựa chọn sử dụng chất kết dính phù hợp cũng như công tác xử lý bề mặt dựa trên cơ sở vật liệu cần gia cường (bê tông) và các thuộc tính của loại FRP chuẩn bị triển khai.
Chất kết dính là một vật liệu có khả năng tạo ra liên kết giữa Ít nhất hai bề mặt và có thé chia sé tải trọng. Có rất nhiều loại chất kết dính tự nhiên và tong hợp như chất đàn hồi, nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt ran đơn hoặc 2 thành phần (mono/bi-component); keo dán phù hợp nhất cho vật liệu FRP dùng cho kết cầu thường dựa trên nhựa epoxy 2 thành phan. Có rất nhiều ưu điểm trong việc sử dụng chất kết dính so với sử dụng neo cơ khí, như khả năng liên kết nhiều loại vật liệu khác nhau, cho độ cứng lớn hon, phân bố tải đồng đều và tránh tập trung ứng suất tại lỗ neo. Tuy nhiên, chất kết dính rất nhạy cảm với điều kiện môi trường, chăng hạn như độ âm và không thích hợp khi tiếp xúc với nhiệt độ cao.
Chen and Teng (2001) phân loại nguyên nhân phá hoại của kết cau BTCT gia cường với CFRP thành ba dạng chính: (’) mat bám dính giữa CFRP và bê tông: (ii) phá hoại lớp keo epoxy do ứng suất cắt quá lớn hon so với sức kháng cắt của epoxy; và (iii) CFRP bị đứt dưới tác dụng của tải trọng kéo dọc trục. Tuy nhiên, CFRP bị đứt khi chịu kéo dọc trục là rất hiếm xảy ra do thực tế CFRP có cường độ kéo dọc trục rất cao. Trong nhiều trường hợp, CFRP mắt bám dính với bề mặt bê tông hoặc mặt tiếp xúc keo - bê tông đạt đến ứng suất cắt cực đại và bị phá hoại trước khi CFRP đút. Dang phá hoại có thé xảy ra nhất là dang (?) mat bám dính giữa CFRP và bê tông (Mertoglu et al.
CHƯƠNG 2: TÔNG QUAN CNR-DT200 (2013) phân loại kiểu phá hoại liên kết bám dính như sau (Hình 2.4): e Phá hoại lớp keo dán (Adhesive fracture): xảy ra tại mặt tiếp xúc giữa lớp chất kết dính và vật liệu (gia cường hoặc được gia cường). Bề mặt phá hoại thường phăng. Kiểu phá hoại này thường do dùng chất kết dính không đúng: e Phá hoại liên kết bám dính (Cohesive fracture): xảy ra bên trong một trong những vật liệu tạo thành liên kết. Bề mặt phá hoại có thé là phăng hoặc lởm chởm; e Pha hoại hỗn hop (Mixed fracture): xảy ra đồng thời 2 kiểu phá hoại kế trên, phá hoại ở cả chất kết dính và liên kết bám dính.
Bề mặt phá hoại thường lởớm chởm. ADHEREND ADHEREND ADHEREND ————— — S= -> — -—-¬ ADHEREND ADHEREND ADHEREND adhesive fracture cohesive fracture mixed fracture Hình 2.4: Các kiểu phá hoại kết cau gia cường FRP Theo CNR-DT200 (2013), khi gia cường kết cầu BTCT bang vật liệu FRP, vai trò bám dính giữa bê tông và vật liệu FRP ảnh hưởng rất lớn đến độ dòn của phá hoại cơ học do sự mat bám dính. Theo đó, phá hoại cơ học không được xảy ra trước phá hoại uốn hoặc cắt của kết câu được gia cường. Với kết cầu chịu uốn gia cường tam FRP có 4 dạng pha hoại như sau (Hình 2.5): e Dang 1: Mất bám dính ở đầu tam FRP; e Dang 2: Mất bám dính giữa tam do vết nứt do uốn; e Dang 3: Mất bám dính do các vết nứt xiên; e Dạng 4: Mat bám dính do bề mặt bê tông bị nhám, lom chom.
CHƯƠNG 2: TONG QUAN Cracked area l ‘og Mode 4 Í Crack-free area Area of largest ị Mode 1 Mode 2 bending momert Mode 3 Hình 2.5: Các dạng phá hoại kết cau BTCT gia cường FRP chịu uốn Theo ACI 440.2R (2017), sự phân bó thực tế của ứng suất bám dính trong tam FRP rất phức tap do bê tông bị nứt.6 thể hiện sự phân bố của ứng suất cat mặt tiếp xúc (Interfacial shear stress) và ứng suất dọc trục (Normal stress) dọc theo chiều dài dán của tam FRP khi bê tông chưa nứt. Tiêu chuẩn này dé cập hai dang phá hoại chính của kết cau gia cường như sau: e Tấm FRP bị mất bám dính: xảy ra tại vùng có vết nứt do uỗn hoặc cat, gân vùng moment cực đại. Kiểu phá hoại này rất thường xuất hiện trong vùng có tỷ lệ lực cat/moment lớn. e Tâm FRP bị bóc tách ở phía đầu tam: do sự phát triển của ứng suất kéo trượt tại đầu tắm FRP.
Tại đây nếu cốt thép không được cấu tạo hợp lý, còn có khả năng lớp bê tông bảo vệ bị tách ra dẫn đến sự bóc tách tam FRP khỏi kết cầu (Hình 2. End of FRP laminate ‘. Centerline of beam Interfacial shear stress CHƯƠNG 2: TÔNG QUAN ——>———| LÌ — FRP ¢ Hình 2.7: Kiểu phá hoại do lớp bê tông bảo vệ bị bóc tach (ACI 440.2R, 2017) Van đề xây dựng mô hình ứng suất bám dính — trượt cho liên kết FRP và bê tông là rất cần thiết để phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu cũng như việc thực hành tính toán của các kỹ sư.