CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG 1. Tổng quan về NHTM 1. Khái niệm và đặc điểm của NHTM 1. Khái niệm NHTM Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm về NHTM: - NHTM là một tổ chức tài chính cung cấp đa dạng những dịch vụ tài chính mà chủ yếu là nhận tiền gởi và cho vay5.
- Tại Ấn Độ, Ngân hàng là một tổ chức mà huy động tiền từ những người có khoản tiền nhàn rỗi hay tiết kiệm từ thu nhập của họ; và tiến hành cho vay đối với những người có nhu cầu6. Mishkin trong cuốn The Economics of Money, Banking and Financial Markets được xuất bản vào năm 1992, các NHTM là các trung gian tài chính thu vốn trước hết bằng cách phát hành tiền gửi có thể phát séc được, các khoản tiền gởi tiết kiệm, các khoản tiền gởi có kỳ hạn. Sau đó, họ dùng các vốn này để thực hiện cho vay như cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế chấp và để mua các chứng khoán chính phủ, các chứng khoán của chính quyền địa phương7. - Ở Việt Nam, theo quy định tại điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng Số 47/2010/QH12: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Nhìn chung, NHTM là một trung gian tài chính hoạt động vì lợi nhuận, cung cấp các dịch vụ tài chính, tiện ích như nhận tiền gửi và cho vay, thanh toán, các sản phẩm đầu tư cơ bản, chuyển tiền, phát hành thẻ… 5 Theo Investopedia.
Trong Commercial Bank 6 Theo Rakesh Kumar. Commercial banks in India. 7 Người dịch: Nguyễn Quang Cư, Nguyễn Đức Duy (2001) 4 1. Đặc điểm NHTM Theo Lê Phúc Minh Chuyên, NHTM có bốn đặc điểm chính như sau: - Hoạt động, kinh doanh trên một loại hàng hóa – dịch vụ đặc biệt là tiền tệ.
Nói cách khác, các ngân hàng sử dụng tiền để kiếm nhiều tiền hơn bằng nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau, điển hình là nhận các khoản tiền gửi của khách hàng sau đó lại tiến hành cho các tổ chức, cá nhân khác vay với lãi suất cao hơn lãi suất nhận tiền gửi. - Là doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao, cấu trúc tài sản đặc thù. Năm 2015, tổng tài sản của ngân hàng thấp nhất là hơn 16 nghìn tỷ đồng (SaigonBank), cao nhất là gần 800 nghìn tỷ đồng (Agribank)8. Bên cạnh đó, cấu trúc tài sản của các NHTM rất khác biệt so với các doanh nghiệp hoạt động trong các kĩnh vực khác.
Bởi vì tỷ trọng tài sản hữu hình rất thấp so với tài sản vô hình cụ thể là các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, hợp đồng tín dụng và các giấy tờ có giá khác. Ngoài ra, nguồn vốn của các NHTM sử dụng cho hoạt động kinh doanh chủ yếu là nguồn vốn huy động từ bên ngoài trong khi vốn chủ sở hữu rất thấp (thường chiếm không quá 10% tổng nguồn vốn). Chính vì vậy, tỷ lệ nợ phải trả/ tổng nguồn vốn rất cao. Hiện nay, để đảm bảo sự an toàn của cả hệ thống ngân hàng cũng như lợi ích của người tiêu dùng, NHTW đã nâng mức vốn điều lệ của các NHTM lên 10 nghìn tỷ đồng vào năm 2015.
- Hoạt động của các NHTM luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của của NHTW. Tỷ lệ nợ xấu cao là một trong những bài toán nan giải của các NHTM hiện nay. Tháng 3/2015, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng là 3.81%9 trong khi mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là đưa con số này về 3% vào cuối năm. Điều này làm giảm đi uy tín cũng như lợi ích của chính bản thân các ngân hàng.
Bên cạnh đó, các ngân hàng còn tham gia vào những lĩnh vực có mức độ rủi ro cao như chứng khoán, bất động sản. Ngoài ra, rủi ro lãi suất cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng có nhiều rủi ro tiềm ẩn, điển hình là chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng. Do đó, nguy cơ các ngân hàng phá sản 8 Theo Kim Tiền (2015) trích dẫn từ Trí thức trẻ 9 Theo NHNN, Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng. 5 là một kết quả tất yếu nếu như họ không quản trị tốt danh mục đầu tư của mình, điều này dẫn đến sự bất ổn định cho nền kinh tế - chính trị - xã hội.
Chính vì lẽ đó, hoạt động kinh doanh của các NHTM phải được kiểm soát chặt chẽ bởi Nhà nước, mà cụ thể là chính sách tiền tệ của NHTW. - Tính liên kết và ổn định của hệ thống Ngân hàng. Trong các lĩnh vực kinh doanh, Ngân hàng có tính phụ thuộc lẫn nhau lớn nhất với độ lan tỏa rủi ro mạnh mẽ. Bên cạnh đó, sở hữu chéo tồn tại giữa các ngân hàng cũng khiến cho chỉ cần một ngân hàng (cho dù quy mô lớn hay bé) gặp trục trặc, đặc biệt trong vấn đề thanh khoản hay phá sản có thể dẫn đến nguy cơ làm lung lay toàn bộ hệ thống bởi sự rút tiền hàng loạt của người dân.
Điển hình là vào năm 2005, sau thông tin Ngân hàng Phương Nam có tên trong một số hồ sơ CVTD có dấu hiệu lừa đảo ở Sóc Sơn (Hà Nội) được phát trong chương trình thời sự của Đài truyền hình Việt Nam, khách hàng của Ngân hàng này đã đến rút tiền đồng loạt cho dù chưa đến hạn. Bên cạnh đó, một số người dân có tiền gởi tiết kiệm hay kì hạn tại một số ngân hàng khác cũng đồng loạt đi rút tiền. Sự việc trên chỉ lắng xuống sau khi đại diện NHNN xuống làm việc tại Ngân hàng Phương Nam chi nhánh Hà Nội để giải thích và trấn an người dân10. Chức năng của NHTM 1.
Chức năng trung gian tín dụng Đây là chức năng chính của các NHTM, đóng vai trò là “cầu nối” giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Các ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi trong cư dân rồi tiến hành cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn nhờ đó, thúc đẩy nền kinh tế. Qua đó, NHTM đóng vai trò là người đi vay lẫn người cho vay và hưởng lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Chức năng trung gian thanh toán NHTM thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa – dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh 10 Theo Việt Báo (2005), Người dân ồ ạt rút tiền ở Ngân hàng Phương Nam.
Với chức năng này, ngân hàng đóng vai trò là “thủ quỹ” và nhận các khoản phí và lệ phí từ khách hàng. Chức năng tạo tiền Chức năng này dựa trên cơ sở của hai chức năng trên (chức năng tín dụng và thanh toán). Ngân hàng sử dụng số vốn huy động để cho vay, số tiền cho vay lại được khách hàng mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ cho đối tác của mình và người này lại gởi tiền tại ngân hàng rồi lại thanh toán tiền hàng cho đối tác. Quá trình này tiếp tục diễn ra làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Chức năng này bị hạn chế bởi một công cụ tiền tệ của NHTW đó là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng tạo tiền của NHTM càng thấp và ngược lại. Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM 1. Nghiệp vụ tài sản có - Nghiệp vụ ngân quỹ là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của khách hàng bằng cách duy trì một lượng tiền mặt hợp lý.
- Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân hàng cho khách hàng có nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng mà thỏa mãn điều kiện vay vốn của ngân hàng. - Nghiệp vụ đầu tư là nghiệp vụ mà các ngân hàng đầu tư vào chứng khoán chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu để thu lợi tức. Nghiệp vụ tài sản nợ - Nghiệp vụ tiền gửi là nghiệp vụ phản ánh các khoản tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân vào ngân hàng mà ngân hàng có thể sử dụng để kinh doanh. - Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: ngân hàng phát hành trái phiếu nợ như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu nhằm huy động vốn cho hoạt động kinh doanh.
- Nghiệp vụ đi vay: khi có nhu cầu về tiền mà ngân hàng đã sử dụng hết vốn thì ngân hàng sẽ tiến hành đi vay NHTW hoặc các tổ chức tín dụng khác. 7 - Nghiệp vụ vốn tự có: vốn tự có của các NHTM bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và các quỹ khác. Khi muốn tăng quy mô hay vốn pháp định đối với lĩnh vực này tăng lên, các NHTM phải bổ sung thêm vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu. Các quỹ dự trữ và các quỹ khác được bổ sung hàng năm từ lợi nhuận ròng của ngân hàng.
Nghiệp vụ ngoài Bảng tổng kết tài sản Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, các NHTM không chỉ tập trung vào quản lý tài sản có mà còn tài sản nợ nữa. Thay vào đó, họ đang ráo riết tạo ra lợi nhuận từ những hoạt động ngoài bảng quyết toán tài sản. - Nghệp vụ bảo lãnh là nghiệp vụ mà ngân hàng (bên bảo lãnh) cam kết bằng văn bản với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ mà mình đã cam kết. - Nghiệp vụ phái sinh là nghiệp vụ phát hành các công cụ phái sinh trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu… nhằm phân tán rủi ro hay đầu cơ.
- Nghiệp vụ cho thuê tài sản là hình thức tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu gần đủ hoặc đủ giá trị tài sản và lãi trong khoảng 80% - 90% đời sống kinh tế của tài sản; khách hàng có thể mua lại tài hạn đó khi hết hạn thuê. - Nghiệp vụ ngoại bảng khác như chuyển nhượng các khoản cho vay, dịch vụ cho thuê két sắt, dịch vụ tư vấn… 1. Tổng quan về CVTD 1.