Chương 1: Giới thiệu chung về mạng lưu trữ dữ liệu - Chuơng 2: Cơ bản về kênh quang - Chương 3: Hiệu suất lưu trữ SAN - Chương 4: Thiết kế SAN, triển khai và duy trì hoạt động cho SAN LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 1 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ MẠNG LƢU TRỮ DỮ LIỆU (STORAGE AREA NETWORK– SAN) Trong những năm đầu của thập kỷ 80, các hệ thống lưu trữ dữ liệu đính kèm trực tiếp (Direct – Attach Disk Storage) dựa trên công nghệ SCSI (Small Computer Systems Interface) là chuẩn kết nối tiêu biểu giữa máy chủ và thiết bị lưu trữ. Cách kết nối này giúp hệ thống máy chủ làm việc ổn định, kết nối với tủ đĩa với tốc độ và hiệu suất cao. Tuy nhiên, với sự ra tăng về tốc độ của các hệ thống máy tính và yêu cầu dung lượng của thiết bị lưu trữ làm cho kiến trúc kết nối SCSI song song bắt đầu chạm phải ngưỡng tối đa công suất và khoảng cách truyền dữ liệu. Đáp ứng lại yêu cầu này kênh quang (fiber- channel) được phát triển.
Kênh quang có khả năng hỗ trợ giao thức SCSI cho thiết bị lưu trữ , hỗ trợ giao thức IP cho mạng máy tính và hỗ trợ giao diện ảo (Virtual Interface) cho cluster. Kênh quang cho phép khoảng cách truyền xa đến 10km với tốc độ truyền ở đơn vị gigabit. Với tất cả các tính năng này kênh quang hiện đang được sử dụng trong hầu hết các thiết bị lưu trữ cấp cao (hi-end), với dung lượng lớn. Nhờ các tính năng và sự chấp nhận của thị trường, kênh quang đang dần thay thế các giao diện SCSI song song trong các thiết bị lưu trữ.
Cũng dựa trên kênh quang một kỹ thuật mới được sinh ra là Mạng lưu trữ dữ liệu kênh quang (Fibre Channel Storage Area Network –SAN). SAN là một mạng gồm có thiết bị lưu trữ dữ liệu và các thành phần của hệ thống ( ví dụ như máy chủ, card quang, switch…) SAN có khả năng cung cấp đường kết nối có hiệu năng cao cho các thiết bị, cung cấp đường dự phòng cho thiết bị lưu trữ, tăng tốc cho công tác sao lưu dữ liệu và hỗ trợ các hệ thống cluster khả dụng cao (high- availability) 1.1 Tổng quan về SAN Trong suốt những năm của thập niên 1980, cách thức kết nối truyền thống giữa máy tính (host) với thiết bị lưu trữ là điểm tới điểm (point to point), hay còn gọi là gắn trực tiếp vào máy tính (Direct- Attached) thông qua các chuẩn giao tiếp như IDE (Integrated Drive Electronics) hoặc SCSI song song. Trong đó SCSI song song thường có tốc độ truyền dẫn là 5 hoặc 10 Mbit/giây giữa host với thiết bị lưu trữ. Các hệ thống lưu trữ trong thời gian này cũng đã cho phép kết nối nhiều đĩa tới một host thông qua một giao diện duy nhất [1,4,5].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Bus kết nối SCSI song song Với khả năng làm việc khá ổn định, tốc độ kết nối cao, và khả năng cho phép người quản trị kết nối các thiết bị lưu trữ trong và ngoài một cách đơn giản. SCSI song song đã đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong những năm 1980. Tuy nhiên khi dung lượng hệ thống lưu trữ ngày một lớn hơn, máy chủ có tốc độ xử lý ngày càng nhanh hơn thì một vấn đề nảy sinh là các thiết bị lưu trữ ngoài (external storage device) bắt đầu lớn lên. Các thiết bị lưu trữ dựa trên SCSI ngày càng yêu cầu tăng thêm dung lượng.
Khoảng cách giữa máy chủ với thiết bị lưu trữ cũng đòi hỏi ngày một xa hơn. Tốc độ truy cập vào ra (I/O rate) cũng phải tăng lên. Để đáp ứng một phần các yêu cầu này một số biến thể (variant) của chuẩn SCSI được phát minh để hỗ trợ khoảng cách giữa máy chủ và thiết bị lưu trữ xa hơn. Tuy nhiên yêu cầu về tốc độ truyền dẫn luôn gặp khó khăn với giao tiếp SCSI song song, để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu này các giải pháp dần dần được phát triển.
Một trong hướng phát triển là xây dựng thiết bị lưu trữ truyền dữ liệu nối tiếp với bộ truyền nhận tốc độ cao, kháng nhiễu, đơn giản trong ghép nối, nhiều công ty đã tiến hành thí nghiệm việc truyền dẫn nối tiếp trên các môi trường khác nhau và đã có nhiều mạch tốc độ cao cho phép tốc độ truyền dẫn lên đến 100Mbit/giây ra đời [1]. Công nghệ kênh quang được sử dụng lần đầu tiên vào kết nối thiết bị lưu trữ chỉ để giải quyết việc tăng khoảng cách, đơn giản việc nối cáp. Việc tăng khoảng cách truyền này đã căn bản thay thế các thiết bị sử dụng kết nối SCSI cũ bằng kênh truyền nối tiếp quang tốc độ cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Sử dụng kênh quang để tăng khoảng cách Kết nối kênh quang cung cấp các giao diện kết nối có tốc độ cao hơn, đơn giản về việc đấu nối (cabling), có thể đấu nối server với các thiết bị lưu trữ ở xa đến 10km hoặc 30km khi có hỗ trợ của thiết bị mở rộng.
Các thiết bị lưu trữ kênh quang ban đầu sử dụng giao thức Fibre Channel Arbitrated Loop (FC-AL). Giao thức này cho phép các đĩa trong cùng một vòng tự thỏa thuận địa chỉ với nhau trước khi trao đổi dữ liệu trên vòng kết nối. FC-AL giúp việc gắn nối, mở rộng các thiết bị lưu trữ trở nên đơn giản, giúp phân cách thiết bị lưu trữ ra khỏi máy chủ. Việc ghép nối giữa máy chủ với thiết bị lưu trữ còn linh hoạt hơn với sự trợ giúp của các thiết bị ghép nối như hub kênh quang (Fiber- channel hub) hoặc switch kênh quang (Fiber – channel switch).
Các thiết bị kết nối làm giảm lỗi trên mạng và tăng cường tín hiệu trên đường truyền [4,5,6]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Vòng kết nối nhiều máy chủ với thiết bị lƣu trữ Hình 1.4 Kết nối máy chủ với thiết bị lƣu trữ qua chuyển mạch kênh quang Ngày nay mạng lưu trữ -SANcó cấu trúc giống như mạng máy tính. Các thiết bị cơ sở hạ tầng bao gồm hub, switch, bridge và router cũng đóng vai trò chuyển tiếp hoặc định hướng dữ liệu đi trên mạng. Giao diện giao tiếp giữa máy chủ với mạng lưu trữ giờ được gọi là Host Bus Adapter- HBA[1].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.5 Mô hình mạng lƣu trữ dữ liệu hiện đại 1.2 Lợi ích của lƣu trữ SAN 1.1 Đảm bảo tính sẵn sàng cao: Dữ liệu số hóa, dữ liệu của các ứng dụng Internet, ngân hàng, điện lực đều tăng theo hàm mũ với biến là thời gian. Có khá nhiều kỹ thuật cũng được đưa ra để đáp ứng với sự gia tăng này như web caching, web load balancer, distributed server cluster. Tuy nhiên các kỹ thuật này không thể áp dụng vào cho các ứng dụng quan trọng như lưu trữ ảnh, email, cơ sở dữ liệu cho các ứng dụng ngân hàng, tài chính hay thương mại điện tử. Các ứng dụng này đòi hỏi phải đáp ứng khả năng cung cấp thông tin, giá cả trực tuyến.
thông tin phải trung thực, chính xác. Chính vì vậy độ khả dụng cao với những hệ thống này là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 cực kỳ quan trọng, việc ngừng cung cấp dịch vụ của hệ thống trong khoảng thời gian ngắn sẽ gây ra những tổn thất lớn lao. Ví dụ: Với phần mềm email server nổi tiếng của microsoft là Exchange Server, việc sử dụng lưu trữ SAN sẽ giúp cho Exchange có khả năng sử dụng cơ sở dữ liệu có kích thước lớn, đáp ứng được sự gia tăng về số người dùng cũng như dung lượng của từng hòm thư trong doanh nghiệp. Các lỗi tại một điểm (single point of failure) được khắc phục bởi tính dự phòng toàn bộ của SAN và các giải pháp Cluster ứng dụng của microsoft.
Các hệ thống có độ an toàn cao (HA- High availability) ngày này được sử dụng phổ biến trong thiết kế đảm bảo khả năng kháng lỗi cho thiết bị lưu trữ. Nhìn chung với tính sẵn sàng cao trong thiết bị lưu trữ, đường kết nối và các thiết bị khác. SAN cho phép các máy chủ kết nối đến thiết bị lưu trữ bằng nhiều đường khác nhau và cung cấp khả năng dự phòng cho từng đường, linh hoạt, đơn gian hơn trong việc quản lý vùng lưu trữ.2 Tập trung thiết bị lưu trữ Dữ liệu của một hệ thống sẽ gia tăng cùng với thời gian, việc gia tăng cũng gây khó khăn trong việc quản lý các thiết bị lưu trữ đơn lẻ được gắn cùng server. Để quản lý được sự gia tăng vùng lưu trữ các nhà quản trị hệ thống bắt đầu tập trung các thiết bị lưu trữ.
Xu hướng sử dụng thiết bị lưu trữ lớn xuất hiện nhiều hơn việc sử dụng các thiết bị lưu trữ cục bộ đơn lẻ. Do các tính năng nổi bật của lưu trữ SAN các nhà quản trị hệ thống đã nhận thấy rằng mặc dù nhu cầu của cơ quan, công ty mình hiện chưa cần chuyển sang lưu trữ SAN nhưng cũng cho rằng việc triển khai SAN vào hệ thống của mình là đúng lúc. Ví dụ : Web server đang thiếu vùng lưu trữ dữ liệu trong khi một server bên cạnh – Database server lại còn trống hàng trăm Gigabyte. Với các thiết bị lưu trữ cũ không có cách nào để giải quyết được yêu cầu này nên nhiều trường hợp người sử dụng phải trả chi phí lớn cho việc dự toán vùng lưu trữ không hợp lý.3 Giảm nghẽn mạng khi sao lưu dữ liệu (backup) Hầu hết các nhà quản trị hệ thống phải đối đầu với việc mạng tắc nghẽn khi thực hiện sao lưu dữ liệu bởi đa số các phần mềm backup (như VERITAS LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 NetBackup, Legato NetWorker) đều chuyển dữ liệu qua giao thức Internet Protocol (IP), vì vậy mỗi khi thực hiện backup đường mạng Ethernet sẽ dần dần bị chậm đi.
Mặc dù có cân nhắc đến thời gian backup vào thời điểm ít hoặc không có người dùng trên mạng nhưng một số doanh nghiệp (Ngân Hàng, Tài Chính, Viễn thông …) vẫn phải thực hiện backup thường xuyên để đáp ứng được với sự thay đổi của nội dung dữ liệu. Một trong những kỹ thuật cho phép loại bỏ nghẽn mạng khi backup là dùng giao thức internet trên kênh quang (IP over Fibre channel). Khi IP được truyền trên kênh quang sẽ không ảnh hưởng đến tải trên đường mạng và thừa hưởng được các đặc tính ưu việt của kênh quang.