Luận án tiến sĩ về nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu của công ty quản lý tài sản tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu cải thiện kết quả xử lý nợ xấu của công ty quản lý tài sản đối với các tổ chức tín dụng việt nam, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

258
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài

1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước

1.3. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN

2.1. Những vấn đề cơ bản về nợ xấu

2.1.1. Khái niệm nợ xấu

2.1.2. Nguyên nhân của nợ xấu

2.1.3. Tác động của nợ xấu

2.1.4. Các chỉ tiêu đo lường nợ xấu

2.2. Hiệu quả xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản

2.3. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu qua AMC của một số Quốc gia và bài học đối với Việt Nam

2.3.1. Bối cảnh ra đời, mục tiêu, biện pháp xử lý nợ xấu của các AMC

2.3.2. Hình thức sở hữu của các AMC

2.3.3. Hệ thống pháp lý vận hành hoạt động AMC

2.3.4. Hiệu quả xử lý nợ xấu của các AMC

2.3.5. Bài học về nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu cho các AMC Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA VAMC

3.1. Thực trạng nợ xấu và xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam

3.1.1. Thực trạng về nợ xấu của các tổ chức tín dụng

3.1.2. Xử lý nợ xấu của các Tổ chức tín dụng

3.2. Thực trạng hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC

3.2.1. Khái quát về VAMC

3.2.2. Thực trạng hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC

3.2.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC

3.2.4. Đánh giá hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC giai đoạn 2013-2019

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ XẤU CHO VAMC

4.1. Định hướng, quan điểm và mục tiêu nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu cho VAMC

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu cho VAMC

4.2.1. Nhóm giải pháp về mô hình, chức năng nhiệm vụ

4.2.2. Nhóm giải pháp về vốn

4.2.3. Nhóm giải pháp về năng lực quản trị rủi ro

4.2.4. Nhóm giải pháp về nguồn nhân sự

4.2.5. Nhóm giải pháp về công nghệ

4.2.6. Nhóm giải pháp bổ trợ khác

4.3. Đề xuất và kiến nghị

4.3.1. Kiến nghị đối với Quốc hội

4.3.2. Kiến nghị đối với Chính phủ

4.3.3. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

4.3.4. Kiến nghị đối với các Bộ/Ban ngành

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nợ xấu và hiệu quả xử lý nợ xấu

Nợ xấu là một vấn đề nghiêm trọng trong hệ thống tài chính Việt Nam, ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng và sự ổn định của nền kinh tế. Xử lý nợ xấu không chỉ là nhiệm vụ của các tổ chức tín dụng mà còn là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị. Việc hình thành Công ty Quản lý tài sản (VAMC) nhằm mục đích tập trung vào việc xử lý nợ xấu đã được thực hiện từ năm 2013. Tuy nhiên, hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC vẫn còn hạn chế do nhiều yếu tố như cơ chế pháp lý chưa hoàn thiện và nguồn vốn hoạt động hạn chế. Theo báo cáo, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao, cho thấy cần có những giải pháp mạnh mẽ hơn để cải thiện tình hình.

1.1. Khái niệm và nguyên nhân của nợ xấu

Nợ xấu được định nghĩa là các khoản vay mà người vay không thể trả nợ đúng hạn. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu có thể bao gồm rủi ro tín dụng, quản lý kém trong các tổ chức tín dụng, và sự biến động của nền kinh tế. Quản lý nợ hiệu quả là rất quan trọng để giảm thiểu rủi ro và tăng cường hiệu quả tín dụng. Các tổ chức tín dụng cần có các phương pháp xử lý nợ xấu hiệu quả để đảm bảo sự ổn định tài chính và phát triển bền vững.

II. Thực trạng xử lý nợ xấu tại VAMC

Thực trạng xử lý nợ xấu tại VAMC cho thấy nhiều thách thức trong việc thu hồi nợ. Mặc dù VAMC đã thực hiện nhiều biện pháp như mua nợ xấu và tái cấu trúc nợ, nhưng kết quả thu hồi vẫn chưa đạt yêu cầu. Tình hình nợ xấu tại các tổ chức tín dụng vẫn ở mức cao, cho thấy cần có những cải cách mạnh mẽ hơn. Việc đánh giá hiệu quả xử lý nợ xấu cần dựa trên các chỉ tiêu cụ thể như tỷ lệ thu hồi nợ và thời gian xử lý nợ. Các tổ chức tín dụng cần cải thiện quy trình quản lý nợ và áp dụng các công nghệ mới để nâng cao hiệu quả xử lý.

2.1. Đánh giá hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC

Đánh giá hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả này. Các yếu tố như chính sách tín dụng, quy trình xử lý nợ, và năng lực quản trị rủi ro đều có tác động lớn đến hiệu quả tín dụng. Cần có các giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình, bao gồm việc tăng cường quản lý nợ và áp dụng các phương pháp xử lý nợ xấu hiệu quả hơn. Việc học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia khác cũng là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại Việt Nam.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu

Để nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu, cần có một chiến lược tổng thể bao gồm cải cách chính sách và tăng cường năng lực cho VAMC. Các giải pháp có thể bao gồm việc hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường nguồn vốn cho VAMC, và cải thiện quy trình quản lý nợ. Ngoài ra, việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý nợ cũng sẽ giúp nâng cao hiệu quả xử lý. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và các tổ chức tín dụng để đảm bảo việc thực hiện các giải pháp này được hiệu quả.

3.1. Đề xuất chính sách và giải pháp cụ thể

Đề xuất chính sách cần tập trung vào việc hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan đến xử lý nợ xấu. Cần có các chính sách khuyến khích các tổ chức tín dụng tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho VAMC trong việc thu hồi nợ. Việc xây dựng một thị trường mua bán nợ cũng là một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả tín dụng và giảm thiểu rủi ro cho hệ thống tài chính. Các giải pháp này cần được thực hiện đồng bộ và có sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan chức năng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về Đề tài Chương 2: Lý luận cơ bản về hiệu quả xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản. Chương 3: Thực trạng hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC. Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu cho VAMC. luan an 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 1.

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƢỚC NGOÀI 1. Không có một định nghĩa duy nhất hay tối ƣu nào về nợ xấu trong các nghiên cứu trƣớc đây. Trên thế giới đã xuất hiện rất nhiều nghiên cứu về nợ xấu với đầy đủ các khía cạnh liên quan đến vấn đề này, ví dụ như định nghĩa, cách phân loại nợ xấu; nguyên nhân gây ra nợ xấu và ảnh hưởng tiêu cực của nó đến hệ thống tài chính, tổng thể nền kinh tế cũng như các biện pháp xử lý nợ xấu và hạn chế chúng phát sinh trong tương lai. Về định nghĩa và cách phân loại nợ xấu, các nghiên cứu hầu hết đều cho thấy không có một định nghĩa chính xác và tối ưu nào về nợ xấu cũng như các tiêu chí để phân loại các khoản nợ này.

Sự đa dạng về định nghĩa và tiêu chí phân loại bắt nguồn từ sự khác biệt trong đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia; cũng như sự khác nhau về mục đích phân loại và quản lý nợ xấu của các cơ quan quản lý. Fofack (2005) định nghĩa nợ xấu là các khoản nợ không tạo ra thu nhập trong một thời gian dài, tương tự với Ernst & Young (2004) khi cho rằng nợ xấu là các khoản nợ không trả được (defaulted loans) và ngân hàng không thể thu lợi từ nó. Trong khi Berger và DeYoung (1997) đưa ra khái niệm rất chung về nợ xấu là các khoản vay có vấn đề (problem loans), thì Stephan (2013) trong một nghiên cứu về nợ xấu tại các nước Đông Âu lại cụ thể hai yếu tố cơ bản hình thành nên định nghĩa về nợ xấu, đó là (i) gốc hoặc lãi quá hạn từ 90 ngày trở lên và (ii) xác định được sự tồn tại của những điểm yếu cơ bản của các khoản vay hoặc người vay tiền. Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (2015) thì cho rằng nợ xấu là: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời khi tiền thanh toán lãi và /hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày luan an 10 nhưng có nguyên nhân ghi ngờ về việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ.” Theo nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG): Nhóm chuyên gia AEG của Liên hợp quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn lãi và hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắn chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.

Theo Ủy Ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu, tuy nhiên trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Như vậy, không có một định nghĩa duy nhất hay tối ưu nào về nợ xấu. Điều này bắt nguồn từ sự khác biệt về đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia, do mục đích phân loại và quản lý nợ xấu của các cơ quan quản lý là không giống nhau; và do cách thức tiếp cận của các nhà nghiên cứu là khác nhau.

Tuy nhiên, tựu chung lại, có thể nhận thấy nợ xấu có thể định nghĩa thông qua một trong ba phương thức sau: (1) khoản thanh toán nợ gốc và lãi quá hạn từ 90 ngày trở lên; (2) có dấu hiệu của sự suy giảm khả năng trả nợ xuất phát từ chính khoản nợ hoặc người đi vay; (3) khoản nợ và người đi vay bị xếp vào nhóm nợ có mức rủi ro cao.2 Các nghiên cứu đều đi đến thống nhất hệ lụy của nợ xấu là rất to lớn Các nghiên cứu đều cho rằng, nợ xấu mang lại hệ lụy to lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là là sự phá sản của những định chế tài chính này. Nhiều nghiên cứu về nguyên nhân sụp đổ của ngân hàng đã chỉ ra rằng chất lượng tài sản là yếu tố dự báo quan trọng về tình trạng không trả được nợ (Balgova, M (2018)) và những ngân hàng phá sản luôn có mức độ nợ xấu cao trước khi sụp đổ. Ngay cả khi ngân hàng luan an 11 không sụp đổ vì nợ xấu thì nợ xấu cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Bing Wang and Richard Peiser (2005)). Điều đó cho thấy rằng nợ xấu là một trong những nguyên nhân cốt yếu gây nên các vấn đề trì trệ của nền kinh tế.

Mỗi một khoản nợ xấu trong khu vực tài chính là sự phản ánh một doanh nghiệp, một tổ chức hoạt động không hiệu quả, không mang lại lợi nhuận. Các tổ chức tài chính cũng sẽ không thu được lợi ích từ những khoản nợ đó. Việc gia tăng của nợ xấu khiến các ngân hàng không muốn chấp nhận rủi ro mới và thắt chặt các điều kiện cho vay, hay còn gọi là tình trạng “thắt chặt tín dụng” (credit crunch). Theo Hội đồng Cố vấn Kinh tế Hoa Kỳ (1991), tình trạng thắt chặt tín dụng là một tình huống trong đó việc cung cấp tín dụng bị hạn chế dưới mức lãi suất thị trường hiện hành và lợi nhuận của dự án đầu tư.

Các ngân hàng không muốn cho vay, doanh nghiệp không tiếp cận được tín dụng dẫn đến dư cầu tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến việc điều hành CSTT (Woo (2000)). Không chỉ có vậy, theo Shih, V (2004), nợ xấu tăng còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến những yếu tố khác của nền kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế thực, tỉ lệ thất nghiệp và lạm phát; do đó khẳng định quan điểm cho rằng không thể có được sự tăng trưởng bền vững và lành mạnh nếu không có một hệ thống ngân hàng bình ổn và hiệu quả. Cũng từ quan điểm này, việc loại bỏ nợ xấu là điều kiện cần thiết để cải thiện tình trạng của nền kinh tế. Nếu nợ xấu tiếp tục tồn tại và tăng cao thì nguồn lực bị tắc nghẽn tại những khu vực không mang lại lợi nhuận, kiềm chế sự phát triển của nền kinh tế và làm suy giảm hiệu quả kinh tế.3 Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân làm phát sinh nợ xấu từ cả vĩ mô và nguyên nhân từ phía ngân hàng Thứ nhất, nhóm nguyên nhân về các yếu tố vĩ mô.

Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm quan trọng về sự biến động không có chu kỳ của nợ xấu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao dẫn đến thu nhập cao hơn sẽ ảnh hưởng tích cực đến khả năng trả nợ của khách hàng. Ngược lại, khi nền kinh tế có những dấu hiệu chững lại hoặc lâm vào khủng hoảng, bất ổn, mức độ nợ xấu tăng lên khi tỉ lệ thất nghiệp tăng và khách hàng vay đối mặt với nhiều khó khăn trong việc hoàn thành nghĩa vụ trả nợ luan an 12 (Fofack, 2005). Những chỉ số kinh tế vĩ mô khác được chứng minh có ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của ngân hàng bao gồm tỉ giá hối đoái, lãi suất và lạm phát.

European Banking Coordination “Vienna” Initiative (2012), nghiên cứu việc xử lý nợ xấu ở khu vực trung, đông và đông nam Châu Âu. Nghiên cứu nhận định nợ xấu khu vực Châu Âu chủ yếu đến từ các chu kì kinh tế đặc trưng của chủ nghĩa tư bản (boom-bust cycle) và có khả năng trở thành yếu tố cản trở tăng trưởng kinh tế khu vực. Việc giải quyết nợ xấu cũng diễn ra với tốc độ chậm chạp bất chấp những nỗ lực từ phía các ngân hàng cũng như chính phủ. Có rất nhiều rào cản đối với việc giải quyết nợ xấu trong lĩnh vực pháp lý, thuế, quy định v…v…, thêm vào đó là cả vấn đề về phối hợp giữa các bên liên quan.

Nghiên cứu là một cách tiếp cận tổng thể và hoàn chỉnh đối với việc giải quyết vấn đề nợ xấu tại Châu Âu, trong đó từng vấn đề được đưa ra phân tích kĩ lưỡng và gợi ý các phương án giải quyết. Việc tham gia trực tiếp của chính phủ vào giải quyết nợ xấu nên được hạn chế và giải quyết nợ xấu cần phải đi kèm với việc báo cáo các số liệu một cách minh bạch, rõ ràng và kịp thời giữa các quốc gia để thuận tiện cho quá trình đánh giá, phân tích và so sánh hiệu quả giải quyết nợ xấu. Thứ hai, nhóm nguyên nhân xuất phát từ hệ thống ngân hàng. Berger và DeYoung (1997) đã nghiên cứu về mối liên hệ giữa nợ xấu, hiệu quả chi phí và vốn của các NHTM Mỹ giai đoạn 1985-1994 và tìm ra mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa hiệu quả chi phí và nợ xấu.

Hai nhà nghiên cứu này giải thích sự tác động của nợ xấu đến hiệu quả chi phí của ngân hàng chủ yếu là do sự suy giảm trong điều kiện kinh tế vĩ mô, trong khi hiệu quả chi phí tác động đến nợ xấu thông qua các giả thuyết về việc quản lý yếu kém. Cụ thể, hiệu quả chi phí thấp là dấu hiệu của việc quản lý không tốt, dồn nhiều nguồn lực nhưng chất lượng quản lý kém, các khoản vay không được kiểm soát một cách chặt chẽ thì nợ xấu sẽ có điều kiện phát sinh và gia tăng. Tuy nhiên, trái ngược lại, Berger và DeYoung (1997) cũng cho rằng hiệu quả chi phí cao cũng nguy cơ dẫn đến nợ xấu. Điều này được lý giải bằng việc tiết kiệm chi phí quản lý các khoản vay thông qua sử dụng ít nguồn lực có thể dẫn đến luan an 13 nợ xấu cao trong tương lai.

Giả thuyết này cũng chứng minh là phù hợp nhờ nghiên cứu của Lee, S (2002).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu của công ty quản lý tài sản tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Kim Quỳnh, dưới sự hướng dẫn của TS. Đoàn Văn Thắng và TS. Phan Hữu Nghị, được thực hiện tại Học viện Ngân hàng vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam. Nội dung của luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng nợ xấu mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực cho các công ty quản lý tài sản, từ đó giúp cải thiện tình hình tài chính của các ngân hàng và tăng cường sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý nợ xấu và tín dụng, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận án tiến sĩ về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường nợ xấu tại Việt Nam, nơi nghiên cứu các yếu tố tác động đến thị trường nợ xấu, và Tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề tài chính hiện nay tại Việt Nam.