Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về Đề tài Chương 2: Lý luận cơ bản về hiệu quả xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản. Chương 3: Thực trạng hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC. Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu cho VAMC. luan an 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 1.
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƢỚC NGOÀI 1. Không có một định nghĩa duy nhất hay tối ƣu nào về nợ xấu trong các nghiên cứu trƣớc đây. Trên thế giới đã xuất hiện rất nhiều nghiên cứu về nợ xấu với đầy đủ các khía cạnh liên quan đến vấn đề này, ví dụ như định nghĩa, cách phân loại nợ xấu; nguyên nhân gây ra nợ xấu và ảnh hưởng tiêu cực của nó đến hệ thống tài chính, tổng thể nền kinh tế cũng như các biện pháp xử lý nợ xấu và hạn chế chúng phát sinh trong tương lai. Về định nghĩa và cách phân loại nợ xấu, các nghiên cứu hầu hết đều cho thấy không có một định nghĩa chính xác và tối ưu nào về nợ xấu cũng như các tiêu chí để phân loại các khoản nợ này.
Sự đa dạng về định nghĩa và tiêu chí phân loại bắt nguồn từ sự khác biệt trong đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia; cũng như sự khác nhau về mục đích phân loại và quản lý nợ xấu của các cơ quan quản lý. Fofack (2005) định nghĩa nợ xấu là các khoản nợ không tạo ra thu nhập trong một thời gian dài, tương tự với Ernst & Young (2004) khi cho rằng nợ xấu là các khoản nợ không trả được (defaulted loans) và ngân hàng không thể thu lợi từ nó. Trong khi Berger và DeYoung (1997) đưa ra khái niệm rất chung về nợ xấu là các khoản vay có vấn đề (problem loans), thì Stephan (2013) trong một nghiên cứu về nợ xấu tại các nước Đông Âu lại cụ thể hai yếu tố cơ bản hình thành nên định nghĩa về nợ xấu, đó là (i) gốc hoặc lãi quá hạn từ 90 ngày trở lên và (ii) xác định được sự tồn tại của những điểm yếu cơ bản của các khoản vay hoặc người vay tiền. Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (2015) thì cho rằng nợ xấu là: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời khi tiền thanh toán lãi và /hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày luan an 10 nhưng có nguyên nhân ghi ngờ về việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ.” Theo nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG): Nhóm chuyên gia AEG của Liên hợp quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn lãi và hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắn chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Theo Ủy Ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu, tuy nhiên trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Như vậy, không có một định nghĩa duy nhất hay tối ưu nào về nợ xấu. Điều này bắt nguồn từ sự khác biệt về đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia, do mục đích phân loại và quản lý nợ xấu của các cơ quan quản lý là không giống nhau; và do cách thức tiếp cận của các nhà nghiên cứu là khác nhau.
Tuy nhiên, tựu chung lại, có thể nhận thấy nợ xấu có thể định nghĩa thông qua một trong ba phương thức sau: (1) khoản thanh toán nợ gốc và lãi quá hạn từ 90 ngày trở lên; (2) có dấu hiệu của sự suy giảm khả năng trả nợ xuất phát từ chính khoản nợ hoặc người đi vay; (3) khoản nợ và người đi vay bị xếp vào nhóm nợ có mức rủi ro cao.2 Các nghiên cứu đều đi đến thống nhất hệ lụy của nợ xấu là rất to lớn Các nghiên cứu đều cho rằng, nợ xấu mang lại hệ lụy to lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là là sự phá sản của những định chế tài chính này. Nhiều nghiên cứu về nguyên nhân sụp đổ của ngân hàng đã chỉ ra rằng chất lượng tài sản là yếu tố dự báo quan trọng về tình trạng không trả được nợ (Balgova, M (2018)) và những ngân hàng phá sản luôn có mức độ nợ xấu cao trước khi sụp đổ. Ngay cả khi ngân hàng luan an 11 không sụp đổ vì nợ xấu thì nợ xấu cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Bing Wang and Richard Peiser (2005)). Điều đó cho thấy rằng nợ xấu là một trong những nguyên nhân cốt yếu gây nên các vấn đề trì trệ của nền kinh tế.
Mỗi một khoản nợ xấu trong khu vực tài chính là sự phản ánh một doanh nghiệp, một tổ chức hoạt động không hiệu quả, không mang lại lợi nhuận. Các tổ chức tài chính cũng sẽ không thu được lợi ích từ những khoản nợ đó. Việc gia tăng của nợ xấu khiến các ngân hàng không muốn chấp nhận rủi ro mới và thắt chặt các điều kiện cho vay, hay còn gọi là tình trạng “thắt chặt tín dụng” (credit crunch). Theo Hội đồng Cố vấn Kinh tế Hoa Kỳ (1991), tình trạng thắt chặt tín dụng là một tình huống trong đó việc cung cấp tín dụng bị hạn chế dưới mức lãi suất thị trường hiện hành và lợi nhuận của dự án đầu tư.
Các ngân hàng không muốn cho vay, doanh nghiệp không tiếp cận được tín dụng dẫn đến dư cầu tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến việc điều hành CSTT (Woo (2000)). Không chỉ có vậy, theo Shih, V (2004), nợ xấu tăng còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến những yếu tố khác của nền kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế thực, tỉ lệ thất nghiệp và lạm phát; do đó khẳng định quan điểm cho rằng không thể có được sự tăng trưởng bền vững và lành mạnh nếu không có một hệ thống ngân hàng bình ổn và hiệu quả. Cũng từ quan điểm này, việc loại bỏ nợ xấu là điều kiện cần thiết để cải thiện tình trạng của nền kinh tế. Nếu nợ xấu tiếp tục tồn tại và tăng cao thì nguồn lực bị tắc nghẽn tại những khu vực không mang lại lợi nhuận, kiềm chế sự phát triển của nền kinh tế và làm suy giảm hiệu quả kinh tế.3 Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân làm phát sinh nợ xấu từ cả vĩ mô và nguyên nhân từ phía ngân hàng Thứ nhất, nhóm nguyên nhân về các yếu tố vĩ mô.
Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm quan trọng về sự biến động không có chu kỳ của nợ xấu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao dẫn đến thu nhập cao hơn sẽ ảnh hưởng tích cực đến khả năng trả nợ của khách hàng. Ngược lại, khi nền kinh tế có những dấu hiệu chững lại hoặc lâm vào khủng hoảng, bất ổn, mức độ nợ xấu tăng lên khi tỉ lệ thất nghiệp tăng và khách hàng vay đối mặt với nhiều khó khăn trong việc hoàn thành nghĩa vụ trả nợ luan an 12 (Fofack, 2005). Những chỉ số kinh tế vĩ mô khác được chứng minh có ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của ngân hàng bao gồm tỉ giá hối đoái, lãi suất và lạm phát.
European Banking Coordination “Vienna” Initiative (2012), nghiên cứu việc xử lý nợ xấu ở khu vực trung, đông và đông nam Châu Âu. Nghiên cứu nhận định nợ xấu khu vực Châu Âu chủ yếu đến từ các chu kì kinh tế đặc trưng của chủ nghĩa tư bản (boom-bust cycle) và có khả năng trở thành yếu tố cản trở tăng trưởng kinh tế khu vực. Việc giải quyết nợ xấu cũng diễn ra với tốc độ chậm chạp bất chấp những nỗ lực từ phía các ngân hàng cũng như chính phủ. Có rất nhiều rào cản đối với việc giải quyết nợ xấu trong lĩnh vực pháp lý, thuế, quy định v…v…, thêm vào đó là cả vấn đề về phối hợp giữa các bên liên quan.
Nghiên cứu là một cách tiếp cận tổng thể và hoàn chỉnh đối với việc giải quyết vấn đề nợ xấu tại Châu Âu, trong đó từng vấn đề được đưa ra phân tích kĩ lưỡng và gợi ý các phương án giải quyết. Việc tham gia trực tiếp của chính phủ vào giải quyết nợ xấu nên được hạn chế và giải quyết nợ xấu cần phải đi kèm với việc báo cáo các số liệu một cách minh bạch, rõ ràng và kịp thời giữa các quốc gia để thuận tiện cho quá trình đánh giá, phân tích và so sánh hiệu quả giải quyết nợ xấu. Thứ hai, nhóm nguyên nhân xuất phát từ hệ thống ngân hàng. Berger và DeYoung (1997) đã nghiên cứu về mối liên hệ giữa nợ xấu, hiệu quả chi phí và vốn của các NHTM Mỹ giai đoạn 1985-1994 và tìm ra mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa hiệu quả chi phí và nợ xấu.
Hai nhà nghiên cứu này giải thích sự tác động của nợ xấu đến hiệu quả chi phí của ngân hàng chủ yếu là do sự suy giảm trong điều kiện kinh tế vĩ mô, trong khi hiệu quả chi phí tác động đến nợ xấu thông qua các giả thuyết về việc quản lý yếu kém. Cụ thể, hiệu quả chi phí thấp là dấu hiệu của việc quản lý không tốt, dồn nhiều nguồn lực nhưng chất lượng quản lý kém, các khoản vay không được kiểm soát một cách chặt chẽ thì nợ xấu sẽ có điều kiện phát sinh và gia tăng. Tuy nhiên, trái ngược lại, Berger và DeYoung (1997) cũng cho rằng hiệu quả chi phí cao cũng nguy cơ dẫn đến nợ xấu. Điều này được lý giải bằng việc tiết kiệm chi phí quản lý các khoản vay thông qua sử dụng ít nguồn lực có thể dẫn đến luan an 13 nợ xấu cao trong tương lai.
Giả thuyết này cũng chứng minh là phù hợp nhờ nghiên cứu của Lee, S (2002).