phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung đƣợc trình bày cụ thể bao gồm các chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng đối với DNNVV tại Sacombank - Chi nhánh Bình Phƣớc Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNNVV tại Sacombank - Chi nhánh Bình Phƣớc CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 KHÁI QUẢT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo điều 4, luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 định nghĩa “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Hiện nay trên các nƣớc có quan điểm đánh giá quy mô doanh nghiệp theo các tiêu thức vốn và lao động dựa trên cơ sở đặc tính kinh tế kĩ thuật của từng ngành. Chẳng hạn, ở Nhật Bản, theo quy định của Bộ luật cơ bản về DNNVV, trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và khai thác thì doanh nghiệp sử dụng dƣới 300 lao động, có số vốn SXKD dƣới 100 triệu yên thuộc doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, còn ở Malayxia, doanh nghiệp có số vốn nhỏ hơn 500 Ringit và sử dụng dƣới 50 lao động là DNNVV.
Lại có quan niệm đánh giá quy mô doanh nghiệp không phải chỉ theo từng ngành kinh tế kĩ thuật, dựa vào tiêu thức lao động và vốn mà cả doanh thu của doanh nghiệp. Chẳng hạn, Đài loan quy định trong ngành công nghiệp chế tạo, xây dựng và khai khoáng thì doanh thu không vƣợt quá 1,5 triệu USD, vốn không vƣợt quá 120 Tệ Đài Loan và sử dụng dƣới 50 lao động đƣợc xếp vào doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. DNNVV trong các ngành công nghiệp ở Hongkong và Hàn Quốc là những doanh nghiệp sử dụng dƣới 100 lao động. Trong một nỗ lực gần đây nhằm xoá bỏ những mâu thuẫn và ngăn chặn sự bóp méo trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, Liên minh Châu Âu đã đƣa ra một định nghĩa chung đối với sự trợ giúp cho các chƣơng trình DNNVV ở địa phƣơng vào năm 1996.
Định nghĩa này cho thấy một thực tế rằng các DNNVV thƣờng đƣợc chia thành nhiều nhóm theo các hạng mục quy mô khác nhau. Theo định nghĩa mới về DNNVV của Liên minh Châu Âu thì các doanh nghiệp đƣợc chia thành các hạng mục sau: - Doanh nghiệp vi mô: <10 công nhân. 1 - Doanh nghiệp nhỏ: < 50 công nhân và doanh thu hàng năm <7 MECU. Tổng số chi phí hàng năm: < 5 MEC.
- Doanh nghiệp vừa: < 250 công nhân và doanh thu hàng năm < 40 MECU. Tổng số chi phí hàng năm < 27 MECU. Thêm vào đó, định nghĩa mới này yêu cầu các doanh nghiệp nhỏ phải là các doanh nghiệp độc lập. Một doanh ngnhiệp độc lập là một doanh nghệp không bị các doanh nghiệp hoặc các nhóm doanh nghiệp khác sở hữu 25% hoặc hơn nữa số tài sản của doanh nghiệp đó.
Tại Việt Nam, Căn cứ theo điều 3 của Nghị định 56/2009/NĐ-CP về sự trợ giúp phát triển DNNVV định nghĩa: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV là đối tƣợng khách hàng đƣợc quan tâm hàng đầu bởi các NHTM. Vì thế DNNVV có thể đƣợc tóm tắt bởi đặc điểm sau: Một là, DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế của nền kinh tế nhƣ thƣơng mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, 2 nông nghiệp. và hoạt động dƣới mọi hình thức nhƣ: doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp tƣ nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể. Hai là, DNNVV có tính năng động cao trƣớc những thay đổi của thị trƣờng do các DNNVV có khả năng chuyển hƣớng kinh doanh và chuyển hƣớng mặt hàng nhanh.
Mặt khác, do DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế, sản phẩm của các DNNVV đa dạng phong phú nhƣng số lƣợng không lớn nên chỉ cần không thích ứng đƣợc với nhu cầu của thị trƣờng, với loại hình kinh tế - xã hội này thì nó sẽ dễ dàng hơn các DN có quy mô lớn trong việc chuyển hƣớng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trƣờng. Ba là, chu kỳ SXKD ngắn, DNNVV có vốn đầu tƣ ban đầu ít nên chu kỳ SXKD của DN thƣờng ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho DN kinh doanh hiệu quả. Bốn là, năng lực kinh doanh còn hạn chế do đặc điểm vốn hoạt động nhỏ, thêm vào đó khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác thấp nên các DNNVV thƣờng gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô hoạt động, triển khai các dự án lớn và đầu tƣ sản xuất mới. Bên cạnh đó, do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không có điều kiện đầu tƣ quá nhiều vào việc nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại.
DNNVV cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trƣờng và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trƣờng, công tác marketing còn kém hiệu quả. Điều đó làm cho các mặt hàng của DNNVV khó tiêu thụ trên thị trƣờng. Những điều này đã hạn chế khả năng chiếm lĩnh thị trƣờng, cũng nhƣ việc phát triển DN, dẫn đến sức cạnh tranh của các DNNVV thƣờng thấp. Năm là, trình độ lao động và năng lực quản lý còn thấp.
Trình độ và tay nghề của ngƣời lao động, đội ngũ quản lý trong các DNNVV cũng là một trong các vấn đề bức xúc hiện nay. Tình trạng trên là do nguồn vốn hạn hẹp, các DNNVV khó có thể chiêu mộ đƣợc lực lƣợng lao động và quản lý giỏi, có tay nghề. Lực lƣợng lao động chủ yếu là phổ thông, ít đƣợc đào tạo tay nghề và thiếu kỹ năng, đồng thời cũng ít đƣợc chủ doanh nghiệp quan tâm đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao tay nghề trong khi chất lƣợng nguồn lao động có ý 3 nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, kỹ năng của nhà lãnh đạo doanh nghiệp còn hạn chế, số lƣợng DNNVV có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chƣa nhiều.3 Những lợi thế và hạn chế của DNNVV - DNNVV có những mặt lợi thế sau đây: Thứ nhất, các DNNVV năng động, linh hoạt trƣớc những thay đổi của thị trƣờng đặc biệt là nhu cầu nhỏ, lẻ, có tính địa phƣơng do DNNVV có khả năng chuyển hƣớng kinh doanh và chuyển hƣớng mặt hàng nhanh, tăng giảm lao động dễ dàng, nơi làm việc của ngƣời lao động có tính ổn định và ít bị đe doạ mất nơi làm việc.
Thứ hai, ngƣời lao động ở các doanh nghiệp lớn dễ bị mất việc làm hơn là các DNNVV, đặc biệt là khi có suy thoái kinh tế. Thứ ba, tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, các quyết định quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp. Qua đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Thứ tư, vốn đầu tƣ ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh, điều đó tạo sức hấp dẫn trong đầu tƣ SXKD, mọi thành phần kinh tế vào khu vực này.
- Bên cạnh những mặt lợi thế trên, DNNVV có những điểm hạn chế sau đây: Thứ nhất, nguồn vốn tài chính hạn chế, đặc biệt nguồn vốn tự có cũng nhƣ vay mƣợn mục đích chủ yếu để duy trì hoặc mở rộng SXKD. Thứ hai, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ kỹ thuật thƣờng yếu kém, lạc hậu, nhà xƣởng, nơi làm việc trực tiếp và trụ sở giao dịch, quản lý của đa phần các DNNVV rất chật hẹp. Thứ ba, năng lực kinh doanh còn hạn chế. Do đặc điểm vốn hoạt động nhỏ, và khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác thấp nên DNNVV thƣờng gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô hoạt động, triển khai các dự án lớn và đầu tƣ sản xuất mới.
Bên cạnh đó, do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không có nhiều điều kiện đầu tƣ quá nhiều vào việc nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại. DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong 4 việc tìm kiếm, thâm nhập thị trƣờng và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trƣờng, công tác marketing còn kém hiệu quả. Điều đó làm cho các mặt hàng của DNNVV khó tiêu thụ trên thị trƣờng. Những điều này đã hạn chế khả năng chiếm lĩnh thị trƣờng, cũng nhƣ việc phát triển doanh nghiệp, dẫn đến sức cạnh tranh của các DNNVV thƣờng thấp.
Thứ tư, trình độ văn hóa, tri thức, quản lý nói chung và quản trị điều hành còn hạn chế. Đa số các chủ DNNVV chƣa đƣợc đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trƣờng, về quản trị kinh doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm và thực tiễn là chủ yếu. Phần lớn các doanh nghiệp đều không có sự phân biệt giữa chức năng lãnh đạo, xây dựng chiến lƣợc của chủ doanh nghiệp, và chức năng quản lý việc vận hành của ngƣời quản lý. Điều này làm cho các chủ doanh nghiệp không đủ năng lực và thời gian dành cho việc xây dựng chiến lƣợc phát triển nên thƣờng ra những quyết định để ứng phó với thị trƣờng là chủ yếu, tập trung vào lợi ích trƣớc mắt mà không quan tâm đến mục dài hạn để phát triển.4 Vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế Sự tồn tại của DNNVV trong nền kinh tế là một yếu tố khách quan cho sự hình thành và phát triển kinh tế của đất nƣớc.
Các DNNVV đang chứng minh vai trò vô cùng quan trọng và có ảnh hƣởng to lớn của mình đặc biệt là tại các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam hiện nay. Tùy vào đặc điểm kinh tế của từng quốc gia mà vai trò của DNNVV đƣợc thể hiện một cách phù hợp, nhƣng nhìn chung DNNVV thƣờng có những vai trò chủ yếu nhƣ sau: Một là, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, góp phần nâng cao chất lƣợng hàng hóa dịch vụ và làm tăng thu nhập quốc dân.